spacer
spacer
spacer
Câu hỏi mởTrả lời câu hỏi

BỆNH VIÊM GAN C-NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA?

viêm gan C: triệu chứng, nguyên nhân và cách chữa trị bệnh viêm gan c như thế nào?

 

 
spacer
spacer

Trả lời

(11)
spacer

Nguyên nhân bị nhiễm viêm gan C là do virus viêm gan C (HCV). Những người có thể là nguy cơ cho bệnh viêm gan C là những người:

Đã chạy lọc thận lâu dài 

Có tiếp xúc thường xuyên với máu tại nơi làm việc (ví dụ, như là một nhân viên chăm sóc sức khỏe)

Có quan hệ tình dục không được bảo vệ với một người có viêm gan C (nguy cơ này là rất ít phổ biến hơn so với viêm gan B, nhưng rủi ro là cao hơn cho những người có quan hệ tình dục nhiều, đã có một bệnh lây truyền qua đường tình dục, hoặc bị nhiễm HIV)

Tiêm chích ma túy hoặc chia sẻ một cây kim với một người có viêm gan C

 Xăm hình hoặc châm cứu với các dụng cụ bị ô nhiễm, Tiếp nhận máu, sản phẩm máu, hoặc các cơ quan được hiến tặng cấy ghép từ một người có viêm gan C .

Chia sẻ các vật dụng cá nhân như bàn chải đánh răng và dao cạo râu với những người có viêm gan C (ít phổ biến hơn)

Được sinh ra từ một người mẹ bị nhiễm viêm gan C (điều này xảy ra ở khoảng 1 trong 20 trẻ sinh ra từ bà mẹ có HCV, đó là ít phổ biến hơn với bệnh viêm gan B).

spacer
3 năm, 26 ngày, 4 giờ, 37 phút, 13 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

 Xin chia sẻ với bạn một số phương pháp điều trị viêm gan C :

   -  Các mục tiêu của điều trị HCV là để loại bỏ các virus ra khỏi máu và giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan có thể là kết quả của bệnh viêm gan C lâu dài. Nhiều bệnh nhân viêm gan C được hưởng lợi từ điều trị bằng thuốc. Các loại thuốc phổ biến nhất là một sự kết hợp của pegylated interferon alfa và ribavirin, một loại thuốc kháng vi-rút. Hầu hết các bệnh nhân được tiêm hàng tuần của pegylated interferon alfa. Ribavirin là một viên nang uống hai lần mỗi ngày. Ribavirin có thể gây ra dị tật bẩm sinh. Phụ nữ nên tránh mang thai trong vòng 6 tháng sau khi điều trị. Điều trị được cho 24 - 48 tuần. Telaprevir và boceprevir là loại thuốc mới hơn có thể được sử dụng cho bệnh nhân genotype 1. Các loại thuốc này có một số tác dụng phụ, và bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân bị xơ gan hoặc ung thư gan có thể là ứng cử viên cho một ghép gan . Những người bị viêm gan C cũng nên: Hãy cẩn thận không dùng vitamin, chất bổ sung dinh dưỡng, hoặc over-the-counter loại thuốc mới mà không cần thảo luận với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ. Tránh bất kỳ chất độc hại gan, bao gồm cả rượu. Ngay cả một lượng vừa phải rượu lên tốc độ tiến triển của viêm gan C và rượu làm giảm hiệu quả điều trị. Chủng ngừa viêm gan A và B.

spacer
3 năm, 26 ngày, 4 giờ, 30 phút, 48 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Entecavir : deoxyguanine nucleoside analouges, ức chế sự nhân đôi siêu vi . Tắc nghẽn sự nhân đôi của siêu vi B bằng ức chế đoạn chủ yếu của men polymerase , như vậy xem như  ức chế cả hệ thống DNA của siêu vi B . Hơn nữa nó ức chế cả cccDNA . Hiệu quả cả dòng siêu vi B hoang dã và dòng đột biến . Entecavir 0,5mg/ngày điều trị 24 tuần làm giảm virus đáng kể . Đối với bệnh nhân đã thất bại với điều trị Lamivudine , liều dùng khuyên là 1mg/ngày thì hiệu quả nhất. Trong một thủ nghiệm điều trị 500 bệnh nhân chỉ thấy có 2 bệnh nhân kháng Entecavir , những bệnh nhân này cũng kháng Lamivudine, đột biến chỉ xảy ra sau khi dùng thuốc 80 hay 100 tuần.

 

TELBIVUDINE: Telbivudine, b-L- 2’- deoxythymidine, là một trong ba L- nucleoside ức chế đặc hiệu sự sao chép HBV. Hai chất khi là b- L- 2’- deoxycytidine v b- L- 2’- deoxydenosine. Những hoạt động kháng HBV  bởi nhóm hydroxyl thường ở vị trí 3’ của phân tử đường b- L- 2’- deoxyribose. Telbivudine được chứng minh là làm giảm 8- log của  HBV DNA ở chuột chũi . Những thử nghiệm lâm sàng pha ½ với telbivudine cho thấy một hoạt tính chống virus tỉ lệ với liều thuốc một cách rõ ràng, với 4 tuần l 800mg mỗi ngày sẽ giảm được 4 –log số lượng HBV DNA trung bình. Không một tác dụng phụ nào được ghi nhận. không có tác dụng phụ có thể liên quan tới cấu hình L của phn tử.

Những kết quả của một nghiên cứu lâm sàng trên telbivudine cũng đã được công bố gần đây. Trong nghiên cứu tăng dần liều được kiểm chứng với placebo ở liều 25, 50, 100, 200, 400, v 800 mg mỗi ngày trong 4 tuần, Telbivudine đã dung nạp tốt ở tất cả các liều lượng. Hoạt động chống virus liên quan đến liều một cách rõ ràng là hiển nhiên, đặc biệt ở liều 400 mg/ ngày hay cao hơn. ở những cơ thể nhận liều 800 mg/ ngay, việc giảm HBV DNA l 3.75 log10 copies/ ml được đạt được ở tuần thứ 4.

spacer
3 năm, 26 ngày, 4 giờ, 25 phút Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Virut viêm gan C - Kẻ giết người thầm lặng

 

Bệnh viêm gan virut C cấp có thể biểu hiện từ không triệu chứng đến viêm gan vàng da điển hình. Vì bệnh không có triệu chứng nên nhiều người không biết mình bị bệnh và bệnh cứ âm thầm tiến triển đến xơ gan, ung thư gan.

 

Virut viêm gan C (HCV) lưu hành trong máu, do đó bệnh viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. HCV RNA đã được phát hiện ở nước bọt, máu kinh, tinh dịch, nước tiểu, dịch não tủy và dịch báng trong xơ gan cổ trướng. HCV ở trong huyết thanh khô vẫn có khả năng gây nhiễm tại nhiệt độ phòng  trên 16 giờ. Có nhiều đường lây bệnh: lây nhiễm do truyền từ máu hay  trong lúc sinh từ mẹ sang con, lây qua các dụng cụ như: bơm kim tiêm, dụng cụ nội soi, kim châm cứu, kim xăm mình, dao cạo râu, dụng cụ cắt sửa móng tay, tiêm chích ma tuý...  

Những nghiên cứu về lây nhiễm viêm gan virut C do quan hệ giới tính có tỷ lệ rất thấp ở vợ chồng hay người bạn tình ổn định. Tuy nguy cơ lây nhiễm qua quan hệ tình dục của HCV là nhỏ, nhưng việc đồng nhiễm với HIV có thể gia tăng lây nhiễm HCV, đặc biệt giữa những người đồng tính luyến ái nam. Trẻ sơ sinh nhiễm HCV từ 2,7 - 8,4% số trẻ được sinh ra do các bà mẹ bị nhiễm HCV, tỷ lệ này cao hơn ở con các bà mẹ đồng nhiễm HIV và HCV.

spacer
2 năm, 9 tháng, 19 ngày, 2 giờ, 54 phút, 4 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Tốt nhất là ngưng ngay việc sử dụng, tiếp xúc với rượu bia, các tác nhân làm tăng mem gan.

Cho đến nay, để điều trị viêm gan c biện pháp cơ bản điều trị viêm gan siêu vi C là Interferon alpha. Ðây là một chất tự nhiên của cơ thể, được sản xuất bởi các tế bào đề kháng khi bị nhiễm siêu vi. Như vậy, khi được dùng để điều trị bệnh viêm gan C, interferon alpha bắt chước đáp ứng tự nhiên của cơ thể chúng ta.
spacer
2 năm, 9 tháng, 20 giờ, 31 phút, 54 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Một vài nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc viêm gan virut C cấp có triệu chứng ở Hoa Kỳ là 0,2 trường hợp trên 100.000 dân vào năm 2005; ở Italia năm 2001 là 1 trường hợp trên 100.000 dân; ở Hàn Quốc  viêm gan virut C cấp có triệu chứng chỉ là 2% tổng số các trường hợp viêm gan virut cấp (virut A đến virut E ); tỷ lệ kháng thể HCV dương tính của bệnh nhân viêm gan virut cấp ở các nước châu Á: 3,9 - 9,7% ở Trung Quốc, 4,9 - 11% ở Ấn Độ, 5,4% ở Malaysia và 10% ở Việt Nam.

spacer
2 năm, 8 tháng, 26 ngày, 17 giờ, 56 phút, 41 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

TENOFOVIR:Tenofovir disoproxil fumarate là một vật liệu tương tự nhân được áp dụng cho điều trị HIV. Gần đây trong một số nghiên cứu in vitro đã chứng minh rằng tenofovir có sự chuyển hóa có lợi và họat tính chống lại lọai hoang dã và một vài chủng đề kháng của HBV. Trong một nghiên cứu của Qi và các cộng sự, tenofovir đã có họat tính gần giống lọai hoang dã  chống lại những mẫu đề kháng lamivudine L 180M/ M204V. thuốc này cũng có họat tính chống lại virus đề kháng với adefovir; tuy nhiên, nồng độ của tenofovir yêu cầu để giảm họat động HBV DNA bằng một nửa (EC50) là hơn gấp 3 lần khi virus đột biến adefovir A 181V, và cao hơn 4.6 lần khi virus  đột biến adefovir N236T.
Những thông tin của in vitro được đề nghị bởi những thử nghiêm tiền cứu và hồi cứu ở những bệnh nhân đồng nhiễm HIV và HBV, thì chỉ ra rằng tenofovir có họat động chống lại HBV trong quần thể này.  Một nghiên cứu hồi cứu của Mauss và các cộng sự quan sát việc điều trị với tenofovir ở 24 bệnh nhân đồng nhiễm HIV / HBV có HBeAg dương tính đã thất bại điều trị HBV trước đây với lamivudin. Sau 12 tháng dùng tenofovir, mức trung bình HBV DNA giảm ít hơn 1000 copies/ ml, và mức ALT bình thường ở 67% trường hợp. Đáp ứng này đã duy trì ở 79% bệnh nhân, trong khi có hai trường hợp số virus đã quay trở lại.  Một nghiên cứu bổ sung bởi Schildgen và các cộng sự cho thấy 3 trường hợp đồng nhiễm HBV/ HIV đã thất bại cả với adefovir và lamivudin, thì đã nhạy cảm với điều trị tenofovir.
Nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên đơn độc đề cập đến họat động của tenofovir ở những bệnh nhân bị nhiễm HBV đã đánh giá 52 trường hợp đồng nhiễm HIV, và đề kháng lamivudine. Những bệnh nhân đã ngẫu nhiên nhận 300 mg/ ngy tenofovir hay 10 mg/ ngày adefovir. Phân tích ở tuần 48 cho thấy tenofovir có họat tính tương tự chống lại HBV như những liều adefovir ở những bệnh nhân đồng nhiễm. Trong phân tích điều trị kỹ lưỡng, trung bình giảm sụt số lượng virus HBV từ vạch giới hạn ở tuần 48 l 3.13 log10 copies/ ml đối với adefovir, và 4.03 log10 copies/ml đối với tenofovir (P = .91). Giá trị trung bình thay đổi ở số lượng virus so với vạch giới hạn ở những cá nhân đã hoàn thành 48 tuần điều trị  cao hơn ở tenofovir (- 5.74 log10 copies/ ml) so với adefovir (- 4.03 log10 copies/ml), mặc dù điều này thì khơng tìm được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Thêm nữa, những điều này đang hứa hẹn những kết quả điều trị đối với HBV bằng tenofovir. Những nghiên cứu trong tương lại từ những bệnh nhân chỉ nhiễm mỗi HBV thì cần.

spacer
2 năm, 8 tháng, 18 ngày, 16 giờ, 14 phút, 26 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Nhiễm khuẩn cấp tính: hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, số ít có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, có thể vàng da, vàng mắt, nước tiểu đậm màu. Chẩn đoán bệnh dựa vào xét nghiệm máu.

Nhiễm khuẩn mạn tính: khoảng 85% trường hợp nhiễm HCV sẽ chuyển thành viêm gan mạn tính. Đặc điểm của bệnh viêm gan C mạn tính là tiến triển thầm lặng từ 10-30 năm, cho nên bệnh nhân không biết mình mắc bệnh và không được chẩn đoán điều trị kịp thời. Nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng nặng như: xơ gan cổ trướng với biểu hiện báng bụng, giãn mạch máu đường tiêu hóa, có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt và tử vong; gan đã bị xơ khó hồi phục lại, dù tình trạng viêm có thuyên giảm; biến chứng ung thư tế bào gan.

Về dấu hiệu cận lâm sàng: viêm gan virut C có triệu chứng điển hình là gia tăng đột ngột men alamine aminotransferases (ALT) huyết thanh từ tuần 10 - 14 sau khi bị nhiễm. Việc hồi phục hoàn toàn khỏi nhiễm HCV ước tính chỉ dưới 20%. Những bệnh nhân viêm gan virut C có triệu chứng sạch virut tự nhiên cao hơn những bệnh nhân không triệu chứng. Những bệnh nhân nhiễm cấp nặng, đặc biệt là biểu hiện vàng da, hoặc bệnh nhân có biểu hiện gia tăng hơn của hoạt tính men aminotransferase có ảnh hưởng đến sự sạch virut tự nhiên bởi có những đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ hơn.

spacer
2 năm, 5 tháng, 2 ngày, 21 giờ, 34 phút, 53 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Virut viêm gan C mới được phát hiện từ năm 1989, nên xét nghiệm chẩn đoán bệnh cũng mới có trong những năm gần đây. Xét nghiệm máu thấy men gan tăng chứng tỏ tế bào gan đang bị hủy hoại. Người ta cũng tìm thấy kháng thể chống HCV dương tính trong hầu hết các trường hợp. Chức năng gan có thể rối loạn tùy mức độ và thời gian bị bệnh. Xét nghiệm HCV RNA phát hiện virut trong máu. Men ALT tăng hơn 5 lần so với bình thường và huyết thanh dương tính với HCV RNA  cùng với tiền sử rõ ràng có thể chẩn đoán được viêm gan C cấp. Xét nghiệm kháng thể HCV có thể dương tính hay âm tính trong suốt giai đoạn cấp tính nhưng hầu hết các trường hợp cho thấy việc đảo ngược huyết thanh từ âm sang dương của kháng thể HCV ở giai đoạn sau. Thời gian của việc xuất hiện kháng thể HCV hay việc đảo ngược huyết thanh thay đổi từ 8 - 20 tuần. Số ít bệnh nhân vẫn âm tính kháng thể HCV trong suốt giai đoạn cấp tính. Có 7- 40% bệnh nhân không phát hiện được kháng thể sau khi đã sạch HCV một cách tự nhiên. Do đó không có bằng chứng về huyết thanh của việc nhiễm HCV sau khi đã hồi phục.

Điều trị và phòng bệnh 

Hiện nay điều trị viêm gan virut C chủ yếu dùng interferon alpha. Đây là một chất do cơ thể sinh ra nhờ các tế bào đề kháng khi bị nhiễm virut. Sau khi tiêm interferon alpha, hầu hết bệnh nhân thấy sốt nhẹ, mệt mỏi giống như cúm trong vài giờ, đó chính là interferon alpha đã  khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại HCV. Những triệu chứng này giảm dần sau một vài tuần. Người ta còn dùng phối hợp kháng sinh như kết hợp interferon alpha với ribavirin cho kết quả khỏi bệnh cao hơn. Phác đồ điều trị tối ưu hiện nay là sử dụng kết hợp peg-interferon (Pegasys hoặc Peg-Intron) với ribavirine. Thời gian điều trị phải kéo dài từ 6 - 12 tháng tùy từng trường hợp. 

Để phòng bệnh cần thực hiện các biện pháp : tập thể dục, thể thao vừa sức giúp  tăng  cường sức khỏe. Hạn chế uống rượu bia, bởi vì xơ gan dễ xảy ra hơn ở người viêm gan đồng thời nghiện rượu. Bệnh nhân viêm gan C có thể ăn theo chế độ ăn bình thường. Khi đã xơ gan, nên áp dụng chế độ ăn giảm muối. Nên sử dụng phương pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

spacer
1 năm, 6 tháng, 21 ngày, 22 giờ, 59 phút, 33 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Xin chia sẻ với bạn một số phương pháp điều trị viêm gan C :

   -  Các mục tiêu của điều trị HCV là để loại bỏ các virus ra khỏi máu và giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan có thể là kết quả của bệnh viêm gan C lâu dài. Nhiều bệnh nhân viêm gan C được hưởng lợi từ điều trị bằng thuốc. Các loại thuốc phổ biến nhất là một sự kết hợp của pegylated interferon alfa và ribavirin, một loại thuốc kháng vi-rút. Hầu hết các bệnh nhân được tiêm hàng tuần của pegylated interferon alfa. Ribavirin là một viên nang uống hai lần mỗi ngày. Ribavirin có thể gây ra dị tật bẩm sinh. Phụ nữ nên tránh mang thai trong vòng 6 tháng sau khi điều trị. Điều trị được cho 24 - 48 tuần. Telaprevir và boceprevir là loại thuốc mới hơn có thể được sử dụng cho bệnh nhân genotype 1. Các loại thuốc này có một số tác dụng phụ, và bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân bị xơ gan hoặc ung thư gan có thể là ứng cử viên cho một ghép gan . Những người bị viêm gan C cũng nên: Hãy cẩn thận không dùng vitamin, chất bổ sung dinh dưỡng, hoặc over-the-counter loại thuốc mới mà không cần thảo luận với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ. Tránh bất kỳ chất độc hại gan, bao gồm cả rượu. Ngay cả một lượng vừa phải rượu lên tốc độ tiến triển của viêm gan C và rượu làm giảm hiệu quả điều trị. Chủng ngừa viêm gan A và B.

spacer
1 năm, 6 tháng, 20 ngày, 22 giờ, 25 phút, 43 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

 5 Thảo dược quý điều trị bệnh gan

Phòng ngừa và điều trị bệnh gan theo Y học cổ truyền Với lịch sử hàng nghìn năm phát triển của Y học phương đông và y học phương tây đã tìm ra hàng vạn cây thuốc quý để điều trị bệnh hiệu quả. Trong số đó phải kể đến những cây thuốc phòng và chữa bệnh gan đặc hiệu như: cây Kế sữa, ngũ vị tử, diệp hạ châu, nhân trần, Actiso, tinh chất nghệ…
1. Cây kế sữa có hiệu quả tốt trong điều trị men gan tăng, gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan do rượu bia
   Cây Kế sữa (cúc gai) đã có mặt hầu khắp các nước trên thế giới. Ở Mỹ, có đến 1/3 dân số sử dụng các thuốc từ kế sữa một cách thường xuyên để chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Ở Châu Âu như Pháp, Đức, Italia, các sản phẩm này cũng đã được ưa chuộng và tin dùng từ lâu. Hoạt chất có tác dụng chữa bệnh của cây kế sữa chính là Silymarin:
 
 Hiệu quả điều trị dựa trên một vài cơ chế tác dụng. Silymarin củng cố cấu trúc màng tế bào gan, làm cho một số những chất độc nhất định không vào được tế bào. Silymarin thúc đẩy tổng hợp RNA polymerase A (còn được gọi là polymerase 1), tăng tổng hợp ribosom, dẫn đến tăng tổng hợp tế bào gan mới thay thế. Ngày nay, Silymarin được dùng để điều trị những trường hợp nhiễm độc gan, hỗ trợ điều trị viêm gan mạn và xơ gan như viêm gan mạn tính, gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu và những hóa chất độc hại.
- Trên một tạp chí xuất bản năm 1995, Morazzoni và Bombardelli nhiễm độc gan do rượu (chiếm 71%), thuốc (18%), các chất độc khác (11%) và Silymarin là chất tốt nhất cho việc điều trị các tình trạng nhiễm độc gan này.
 
    Ngũ vị tử: Bảo vệ các nhu mô gan, hạ men gan.
   Ngũ vị tử có tác dụng tái tạo các nhu mô gan bị tổn thương, thành phần lignin trong Ngũ vị tử có tính bảo vệ gan rõ rệt. Phần lớn báo cáo cho biết thuốc Ngũ vị tử tăng tồn trữ glycogen và sử dụng glucose, cũng như mức acid lactic. Ngũ vị tử là vị thuốc kháng khuẩn, bảo vệ gan, cường tim và an thần. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, ngũ vị tử có tác dụng chống độc cho gan. Các lignan trong ngũ vị tử có tác dụng làm giảm tổn thương gan trong các trường hợp viên gan virus mạn tính. Ngũ vị tử được dùng để điều trị viêm gan mạn tính có nồng độ transaminase huyết thanh cao, tổn thương gan, mệt mỏi, đổ mồ hôi đêm, mất ngủ, stress mạnh... Vị thuốc này còn có tác dụng hồi phục chức năng gan và làm giảm ALT huyết thanh nhanh trong viêm gan mạn tính, kích thích cytochrom P450 làm tăng khả năng giải độc trong cơ thể. Ngũ vị tử làm tăng tổng hợp protein trong gan và làm tăng hoạt động các tiểu thể gan, các tiểu thể này làm tăng khả năng giải độc và tăng hoạt động chức năng gan
 
     Diệp Hạ Châu: Ức chế sự phát triển của các vi rút viêm gan B.
     Qua nghiên cứu lâm sàng và một số đề tài của các giáo sư, bác sĩ tại các bệnh viện lớn như bệnh viện 103, 108 và bệnh viện 354, Diệp hạ châu có tác dụng ức chế sự phát triển của virus gây viêm gan B do ức chế men DNA polymerase, một loại men cần thiết cho sự sinh sản của virus viêm gan B. Do đó được dùng để điều trị các bệnh viêm gan do virus cấp hoặc mạn tính.
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu mới đây ở Viện dược liệu cũng khẳng định hiệu quả điều trị tới gan. 
 
 Nhân trần: Tăng tiết dịch mật, kích thích ăn uống.
Theo tài liệu của GS. Đỗ Tất Lợi (trang 625-627) - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam có tác dụng làm tăng tiết mật và thải độc gan, chống viêm, kháng khuẩn và làm giảm tiết dịch vị, giảm độ acid tự do và acid toàn phần của dịch vị, làm giảm loét dạ dày.
 
Tinh chất nghệ: Chất chống oxi hóa mạnh, tăng tiết mật, bảo vệ gan và dạ dày.
Giúp tăng bài tiết dịch mật, tiêu hóa chất béo, bảo vệ gan. Ngoài ra, còn có tác dụng giảm tiết acid dịch vị, tăng dịch nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày.
spacer
1 năm, 2 tháng, 25 ngày, 21 giờ, 8 phút, 21 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Khám phá thêm

spacer
spacer