spacer
spacer
spacer
spacer
Câu hỏi mởTrả lời câu hỏi

Bài Tựa Của tác giả Thi Nại Am

Người ta sinh ra 30 tuổi mà chưa lấy vợ, không nên lấy vợ nữa; Bốn mươi tuỏi chưa ra làm quan, không nên làm quan nữa; Năm mươi tuổi không nên ngồi ró ở nhà; Sáu mươi tuổi không nên chơi vung bốn bể. Tại làm sao? Đánh đùng đã trái thời, thì việc không còn mấy.
Mặt trời mới mọc, vội vội vàng vàng, rửa mặt mũi, sửa khăn áo, ăn cơm uống nước, súc miệng xỉa răng. Các việc xong rồi, đứng dậy hỏi đã trưa chưa? Trưa lâu rồi vậy. Từ sáng đến trưa như vậy, từ trưa đến tối khác chi? Một ngày như thế, ba vạn sáu nghìn ngày còn có lấy gì làm khác. Lấy thế mà lo mà nghĩ, thì còn gì là thú ở đời?
Lạ cho người đời thường nói:
"Ta ngày nay đã chừng ấy tuổi". Ôi! Hai chữ "Chừng ấy" tức là chứa chất nhiêu năm rồi mới thành ra, nhưng những năm chứa đó, ta có thể đem ra mà đếm lại được hay không?
Mới hay cái ta đã qua rồi, đều đã biết đi đâu cả. Mà không những thế, ngay như viết câu này, thì những câu ta viết trước đây, đều đã vụt biến mất cả. Đó mới thực đáng đau lòng.
Cái việc khoái ý không gì bằng bạn, cái khoái chơi bạn không gì bằng truyện. Ai không chịu là như thế? Nhưng nào có được nhiều đâu? Có khi gió lạnh, có lúc mưa lần, có lúc ốm đau, có khi không gặp, bao nhiêu lúc đó, thực là như ở trong tù.
Nhà ta ruộng chẳng có bao, phần nhiều cấy lúa để riêng nấu rượu. Ta không uống mấy, nhưng để phòng cho bạn ta xơi. Nhà ta cửa liền sông lớn, mái có cây to bóng mát, là nơi bọn ta lui tới ngồi chơi. Trong nhà những người thổi nấu dọn dẹp, chỉ có bốn người lão tỳ, ngoài ra nuôi thêm mười tám trẻ nhỏ, để tiện sai khiến thư từ.
Những khi nhàn rỗi, thường hay dạy chúng bó chổi dệt chiếu, chổi để quét nhà, mà chiếu để trải ra cho bạn ta ngồi.
Bạn ta có thể tất cả được 16 người, nhưng những ngày họp mặt tất cả rất ít. Không phải gió mưa ngăn trở, song cũng không mấy giờ là không ai đến. Có đến chăng cũng chừng độ sáu bảy người.
Các bạn ta đến cũng không uống ngay, muốn uống là uống, không muốn thì thôi, để tuỳ ý bạn, vì không lấy rượu làm vui, mà lấy chuyện làm vui vậy.
Bạn ta nói chuyện, không nhắc tới việc triều đình, cũng vì đường mà xa xôi, phần nhiều là những tin đồn, tin đồn không đích, đã không đích thì chẳng qua nghe hơi nổi chõ mà thôi. Cũng không nói tới lầm lỗi của người. Người đời nguyên không có gì là lầm lỗi, không cần ta phải đơm đặt làm chi. Những lời nói ra không cầu cho ai kinh sợ, mà người ta cũng không kinh không sợ. Không phải không muốn cho người ta hiểu, nhưng người ta cũng chẳng hiểu nào. Vì là những việc ở trong tính tình, phần nhiều người đời mang bách, cũng chẳng buồn nghe.
Bạn ta đã toàn là những hạng điềm đạm thông minh, thì những việc phát mh đâu đâu cũng gặp, nhưng mỗi ngày nói xong lại bỏ không ai biên chép bao giờ. Có lúc cũng muốn biên chép cho thành sách để tặng cho người sau, nhưng đến nay cũng vẫn là không có. Chỉ vì: một là lòng hiếu danh đã hết, hai là lời nói cốt để cầu vui, làm sách thì tâm càng khổ, ba là sau khi chết rồi, sách kia ai đọc, bốn là những việc làm năm nay, sang năm tất hối.
Truyện Thủy Hử có 71 quyển, là những lúc bạn ta về cả, phần nhiều là dưới đèn viết đêm, và một phần nhỏ là gió mưa tầm tã, không ai đi tới với mình. Những là kinh doanh trong lòng, lâu ngày thành lập, không cần vuốt giấy cầm bút rồi mới viết ra. Vì là dưới nơi bóng chiều xế giậu, trong lúc chăn đắp năm canh, và những khi cúi kéo dây lưng, ngửa trông vạn vật đều đã nhận cả rồi.
Hoặc có kẻ hỏi:
- Đã nói không soạn thành sách, vậy cớ sao lại có chuyện này!
Thì đó há không phải là cuốn truyện này, thành ra không có tiếng tăm gì, không thành cũng không có gì thiệt hại, là điều thứ nhất. Bụng nhàn viết thử, mớ quyền tự vui, là điều thứ nhì. Không cứ hiền hay ngu, không ai không đọc được, là điều thứ ba. Văn chương hay dở, chuyện nhỏ không đủ bận lòng, là điều thứ tư.

Than ôi! Nghĩ ra thực đang thương thầm.
Kiếp tình phỏng độ trăm năm là cùng.


Ta biết đâu người sau đây đọc đến sách ta, sẽ bảo ra sao? Hãy biết ngày nay đưa trình bạn ta, bạn đọc mà vui, thế là đã đủ!
Vả chưa biết cái thân sau của ta, đọc đến sách này, sẽ bảo ra sao? Mà cũng chưa biết thân sau của ta có lại đọc đến sách này hay không? Cái đó phỏng ta nghĩ ngợi làm chi?

Nguyên do sách vở làm ra, trước đây Thánh Nhân dùng để đồng nhất dân tâm, mà đưa ra trị đạo vậy. Đầu mối gây ra từ việc thắt nút dây đánh dấu công việc, mà sau thịnh lên, mới làm ra sáu kinh. Cái người cầm bút biên chép, thì đều ở vào địa vị Thánh Nhân, mà lại có đủ cái đức trong mình.
Đứng vào địa vị Thánh Nhân, thì được có quyền; có đức Thánh Nhân, thì hiểu được duyên cớ. Có đủ quyền mà hiểu duyên cớ, tức là được quyền làm mà làm và cũng là không thể không làm được mà phải làm.
Thế cho nên Dịch là để dắt người ta làm điều thiện; Lễ là để phòng cho khỏi làm điều ác; Thư là để đọc suốt cho hết cái biến của vận trời; Thi là để ngang khắp cho thông hội nhân tình. Vậy Dịch là loại sách đi, Lễ là loại sách ngừng, Thư là loại sách đáng sợ, Thi là loại sách đáng vui. Nên nói rằng Dịch tròn mà Lễ vuông, Thư lâu mà Thi rộng. Lại nói rằng Dịch không thưởng mà dân khuyên gắng; Lễ không giận, mà dân biết tránh xa điều dở; Thư là cắt bàn tiệc ở ngoài miếu; và Thi là nhà Minh Đường (Tên một cung điện của nhà vua, dùng làm nơi hội họp chư hầu để mình chính giáo khi chửa lâm triều. Nếu có Dịch, mà có thể không Thư, thì cũng không làm Thư nữa. Có Dịch có Thư mà có thể không Thi, thì cũng không làm Thi nữa; có Dịch có Thư, có Thi, mà có thể không Lễ, thì lại cũng không làm Lễ làm chi. Có đức của Thánh Nhân, thì biết được duyên cớ; biết được duyên cớ, thì hiểu Dịch là cùng Thư cùng Thi, và cùng Lễ đều có duyên cớ khác biệt, mà không bỏ một sách nào đi được. Có đức của Thánh Nhân, mà lại ở vào địa vị Thánh Nhân, thì mới có quyền, có quyền rồi sau mới có thể làm được, Dịch đã xong lại muốn làm Thư, lại muốn làm Thi, rồi lại muốn làm Lễ. Đó đều là phép cầm bút viết ngay, mà người ta không thể bàn nói tới được.
Không địa vị Thánh Nhân thì không có quyền. Không có quyền mà không tránh khỏi được cái việc phải làm, đó là Trọng Ni vậy. Trọng Ni không có địa vị của Thánh Nhân, mà có đức của Thánh Nhân. Có đức của Thánh Nhân, thì biết được duyên cớ, biết duyên cớ mà không thể không làm, đó là Kinh Xuân Thu vậy. Nhưng Trọng Ni phải nói lên rằng: "Kẻ biết ta chỉ ở Kinh Xuân Thu chăng? Kẻ buộc tội ta cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu chăng?" Đó là tại làm sao vậy?
Biết ta chỉ ở Xuân Thu, nghĩa là: Trong một bộ Xuân Thu, dùng Trời để xử là học theo Dịch; dùng việc buộc vào ngày, là học ở Thư, la liệt ra các nước, là học ở Thi, mà nêu Thiện cấm Ác là học ở Lễ. Đó đều là vì có đức nên biết được duyên cới, nên không thể không làm. Không thể không làm, mà phải kiêm cả sở trường của bốn kinh hợp lại vào một sách, thì cũng không khác là không phải tự mình. Kẻ buộc tội chỉ ở Xuân Tu, nghĩa là: Cổ giả không phải Thiên Tử thì không được khảo văn, duy từ khi Trọng Ni là một địa vị thường dân, đứng ra làm sách Xuân Thu, mà về sau những đồ xảo ngôn thường nhao nhao bắt chước cũng làm. Nhao nhao bắt chước làm ra đã lâu, thì những lời lảm nhảm táp băm không gì là không có. Kết cục, vua đọc thì bồi hồi ở trên, dân đọc thì loạn ở dưới, đến nỗi mịt mờ lộn xộn, tai họa lây đến các kinh. Than ôi! Trọng Ni không phải không biết, mà rút cục vẫn cứ phải làm, chính vì thế mà Trọng Ni nói là buộc tội, mà tự thương xót cho mình.
Hoặc có người nói: Thế thì Trọng Ni quả thực có tội hay chăng? Thưa răng: Trọng Ni là người vô tội, Trọng Ni hiểu biết duyên số, nhưng tự cho mình là hạng thường dân, không dám nhận làm, cho nên phải mượn Sử thành Kinh, trong đó không lập văn riêng, mà chỉ chép lên đầu bốn chữ "Xuân Vương Chính Nguyệt" rất to. Nếu nói là sách cũ, thì là sách của chư hầu, mà nói là sách mới, thì lại là sách của Thiên Tử, tức là Trọng Ni không cho chư hàu có quyền làm sách vậy. Trọng Ni đã không cho chư hầu có được quyền làm sách, thì hẵn không khi nào đem lại quyền làm sách trao cho một hạng dân thường. Cho nên làm sách là việc của Thánh Nhân, nếu không phải Thánh Nhân mà lại làm sách, thì người đó đáng giết, mà sách cũng đáng đốt đi.
Việc làm sách là việc của Thánh Nhân mà làm Thiên Tử, nếu không phải Thiên Tử mà làm sách, thì người đáng giết, mà sách đáng đốt đi. Là tại sao vậy? Không phải Thánh Nhân mà làm sách, thì sách phá đạo; không phải Thiên Tử mà làm sách, thì sách phá trị. Phá đạo và phá trị là sách bàn ngang lẽ nào không đốt, mà người làm ngang lẽ nào không giết? Cho nên cái việc nhà Tần đốt sách, không phải là chí của Thủy Hoàng, mà chính là chí của Trọng Ni đó. Duy Trọng Ni không tốt, mà Thủy Hoàng đốt, là Trọng Ni không đủ quyền làm sách, và cũng không đủ quyền đốt sách. Đến như Thủy Hòng đốt sách, mà đốt tất cả thánh kinh đó tức là Thủy Hoàng dẫu có quyền, mà thực không có đức. Thực không có đức vì không biết duyên cớ, cho nên đốt hết đi ngay. Bởi thế đốt thánh kinh là tội của Thủy Hoàng, mà đốt sách cũng tức là công của Thủy Hoàng vậy.
Không bao lâu nhà Hán nổi lên, lại mong kiếm tìm sách sót, bấy giờ bầy tôi trong triều, vì chuyện dâng sách đắc dụng khá nhiều. Rồi đến những kẻ muốn công danh trong nước, không ai chẳng khai là có sách khá nhiều, mà lại có lẽ nhiều hơn khi chưa đốt sách.
Than ôi, từ trước tới nay, người ta cho cả cái họa đốt sách rất nguy, nhưng có biết đâu cái họa tìm sách lại nguy hiểm hơn nhiều. Đốt sách thì thiên hạ hết sách, thiên hạ hết sách, thì sỡ dĩ sách của Thánh Nhân mới còn. Thu sách thì tất cả thiên hạ có sách, thiên hạ có sách, thì sách của Thánh Nhân tất phải mất đi. Cho nên đốt sách là cấm người thiên hạ được làm sách. Làm trái ngược lại đạo giáo Thánh Nhân cũng có sách; Tuyên dương hiệu lệnh của Thiên Tử cũng có sách, mà vi phạm hiệu lệnh của Thiên Tử cũng có sách.
Nay nếu thực đem trị pháp của Tam Đại (Ba đời vua thịnh nhất ở Trung Quốc, là Hạ, Thương, Châu, gọi là Tam Đại) mà trị thiên hạ, thì ngay đến sách tỏ rõ đạo của thánh hiền, tuyên dương hiệu lệnh của Thiên Tử, cũng còn không thể cho được, vì cớ sao? Vì ghét những thứ đó, là những hạng trái ngược đạo giáo của Thánh Nhân, vi phạm hiệu lệnh của Thiên Tử mà cũng công nhiên làm ra sách được?
Xét nguồn gốc ra, chỉ vì một nỗi, người trên đã thích, thì người dưới tất lại thích hơn. Cha con anh em cả họ châu vào sách, hì hục lâu ngày tài tử chan chứa. Ôi! Đã đến khi ứng chiếu, tất phải nói đẹp cho vui, dẫn đến thế nào mà không được cả. Tán tụng qủy ma, mắng rủa thánh hiền, bút mực đã say, gì không nỡ tất! Vì thế dân loạn tất giết, mà du hiệp truyền ra trục lợi côn đồ xúm lại, mà buôn bán thành văn, cốt sao kỳ cùng quái lạ, kể chi cạn máu phơi tim, có thể nói là trên cùng trời biết, dưới suốt suối vàng, nói chưa hết, thì chưa sướng, chưa sướng thì chưa thôi.
Cách làm như thế, thoạt mới khởi đầu, còn dấm dúi ở dưới, kẻ này truyền tay cho kẻ khác xem, chỉ sợ người trên cấm. Nhưng dần dần lâu lâu, mà người trên cũng lần biết tới, biết tới rồi mừng, đến nỗi người trên không cấm mà lại thích, thì người thiên hạ còn gì mà kiêng sợ nữa? Thoạt tiên những người làm sách nơm nớp lo sợ bảo lẫn nhau, người đọc sách cũng nơm nớp sợ bảo lẫn nhau. Sau khi nơm nớp bảo nhau, rồi xoay ra cùng bắt chước nhau, không ai là không làm sách, đến nỗi di kinh của những thánh kinh, chỉ còn được một vài thiên, mà sách của các nhà, thì chết trâu gãy xe cũng không kéo hết, xây lầu lập gác, cũng không chưa hết, huấn lệnh của Thiên Tử cũng chẳng qua như cỏ, rác, mà sách của các nhà thi không phải gấm vóc, không thèm viết tới, không phải vàng ngọc không đủ nêu lên. Dần dần chứa đến ngày nay, cái họa không biết thế nào mà nói! Dân không biết trộm, đọc sách của các nhà, mà không người nào là không biết trộm. Dân không biết dâm, đọc sách của các nhà mà không người nào là không biết dâm! Dân không biết dối. Dân không biết loạn, đọc sách của các nhà mà không người nào là không biết loạn.
Ôi! Trên đây ta nói là không phải Thánh Nhân mà làm sách, là sách loạn đạo! Không phải Thiên Tử mà làm sách, là sách loạn trị, đó chẳng qua lo rằng phụ họa kinh nghĩa, dạy dân lẫn lộn, trắng lường trị thuật, dạy dân tính ranh. Dạy dân lẫn lộn, dân thì khó trị! Dạy dân tinh ranh, dân thì khó trị. Vì thế nên đoán ngay rằng: Phá đạo cùng trị, ấy là bàn ngang, người đó đáng giết mà sách đó đáng đốt vậy. Ấy những hạng không phải thực đã quá quấy đến thánh kinh, hại lớn đến Vương trị, mà còn như thế đó. Huống chi những hạng sách ngày nay, lại không phải là sách có thể đoán tới được nữa! Cứ như thế, phải thực là một sự giết, cũng không thể đủ lấp được hết tội, và một sự đốt, cũng không thể được hết căn. Mà đầu sỏ gây ra tội ấy, thì thực do người nhà Hán xuống chiếu tìm sách xướng khởi ra cả. Cho nên nói rằng: Cái họa đốt sách rất dữ, mà cái họa tìm sách lại càng dữ dội hơn nhiều.
Cái họa đốt sách, họa ở nơi đốt cả thánh kinh. Thánh Kinh bị đốt mà dân không biết đường khuyến khích việc thiện, đó là cái tội của Thủy Hoàng, vạn đời không thể tha được. Cái họa tìm sách, là họa ở nơi các sách tư đều ùa nhau ra, các sách tư ùa ra mà dân đều xô vào làm ác, đến nỗi không gì không làm, đó là cái tội của người nhà Hán, cũng vạn thế không thể nào tha thứ được. Tuy nhiên đốt sách, mà thánh kinh vẫn còn thấy ở đời sau, thì cái tội của Thủy Hoàng, vẫn còn là nhẹ. Đến như tìm sách để cho sách tư ngày một ùa ra, đến lan man tai hại, không thể gỡ được, thì cái tội của nhà Hán còn gấy nặng hơn nhiều. Than ôi! Người quân tử gặp những lúc này, lặng thinh mà không được, mà cấm cũng không nổi vậy biết dùng phép gì mà trị đi cho được?
Thưa rằng: Ta nghe Thánh Nhân làm sách là do ở đức, cổ nhân làm sách là do ở tài. Đã biết Thánh Nhân làm sách, là do ở đức, thì hiểu biết Lục Kinh đều cặn bã của Thánh Nhân, kẻ đọc cốt sao dùng thần mà biết thấu suốt, không nên chải ra từng chữ, từng câu, mà cho là theo đời vào việc đọc kinh. Đã hiểu cổ nhân làm sách, là do ở tài, thì hiểu các nhà sau đó, đều là vổ vã tinh hoa của sách người xưa, kẻ xem đến cần phải giũ đi cho sạch, mà chớ bới nhặt mảnh răng mảnh lợi, dùng làm câu chuyện đàm luận với nhau. Đối với sách của Thánh Nhân, đã dùng thần mà hiểu thấu suốt, ta chắc rằng từ đây về sau mới không dám rằng ngoài Kinh Dịch lại làm ra truyện Dịch. Ngoài Kinh Thư lại làm ra truyện Thư; Ngoài Kinh Lễ, và ngoài kinh Xuân Thu lại làm ra truyện Xuân Thu vậy. Vì cớ sao? Vì thẹn rằng đức mình không hợp, thì chương cú không ổn, mà trái hẳn với tâm của thánh nhân. Đối với sách của các nhà sau đó, cũng có thể giũ đi cho sạch, rồi ta chắc rằng từ đây về sau không ai còn chịu theo sách Trang, lại làm ra quảng Trang, theo sách Tao mà lại làm ra cực Tao, và theo sao Bãi Quan, mà làm ra tân Bãi Quan vậy. Vì cớ sao? Vì thẹn rằng tài mình không kịp, mà chỉ nhặt nhạnh bọt rãi vơ ngậm với nhau, thì thực không khỏi chỉ là tôi tớ cổ nhân.
Ôi! Hỏi nước nóng lên, mà làm được lạnh, thì chẳng thà đừng thêm củi. Chán cái bóng đương đi, mà bóng càng tiến mãi, thì chẳng thà hãy bảo đừng đi. Người ác làm sách, mà bảo cho biết cái đức của Thánh Nhân, cái tài của cổ nhân, nghĩa là qua cửa Thánh Nhân, thì khó lòng lập nên lời nói, đã nom qua cái tài của tài tử, thì khó lòng viết thành lời văn, đó cũng là lối không thêm củi và bảo đừng đi vậy.
Tuy vậy, đức của Thánh Nhân, thực thường nhân không thể nào mà theo được. Đã thực thường nhân, nên không thể theo được, thì không phải cái việc, mà ngày nay tiểu tử dám theo. Đến như tài của cổ nhân, hoặc còn là người thường theo được, mà đã là người thường theo được, thì may ra tiểu tử đây dám liều gan mà học đòi vào đó. Ôi! Tài của cổ nhân, nguyên là đời chẳng cùng noi, người chẳng cùng kịp, Trang Châu có tài của Trang Châu, Khuất Bình có tài của Khuất Bình, Mã Thiên có tài của Mã Thiên, Đỗ Phủ có tài của Đỗ Phủ. Dần xuống đến Thi Nại Am có tài của Thi Nại Am, Đồng Giải Nguyên có tài của Đồng Giải Nguyên. Cái nghĩa chữ Tài, có nghĩa là Cây. Cây thì cái thế vượt mây che trời, là bắt đầu ở lúc nứt mãng nảy mầm. Ngay khi nứt màng nảy mầm đã đủ cái thế vượt mây che trời, nhưng đến khi vượt mây che trời, thì lại không còn cái thứ nứt màng nảy mầm như xưa. Đó là cái thuyết Tài nghĩa như Cây.
Lại có một nghĩa chữ Tài là may. May thì có toàn bức gấm ở tay, mà không toàn bức gấm ở mắt, không toàn cái áo ở mắt, có toàn cái áo ở tâm. Trông thấy cổ áo, mà biết cái tay áo. Trông thấy cái vạt cả, mà biết đến cái vai áo. Đành rằng cổ áo đâu phải tay áo, vạt áo đâu phải vai áo, nhưng tả hữu xùng xống, trước sau cùng hợp; rời ra thì khác, mà khép vào thì lại chỉ thành đúng khớp với nhau. Đó là cái thuyết "Tài" nghĩa là May.
Nay người đời chỉ biết ra có tài mới có thể góp được tứ, mà không biết cổ nhân, tài lại ở phía sau góp tứ. Chỉ biết có tài mới lập được cục. Chỉ biết có tài mới giũa nổi câu, mà không biết cổ nhân dụng tài, lại quay ở sau chỗ giữa câu. Chỉ biết có tài mới hạ được chữ. Mà không biết cổ nhân, dụng tài lại quanh ở phía sau hạ chữ. Đó là cẩu thả với thận trọng có khác mà thôi.
Những hạng nói là có tài mới có thể ép tứ, lập cục, giũa câu, hạ chữ, là hạng người bề ngoài, chưa từng giữ khuôn phép như là châu ngọc. Bề trong chưa từng có kinh doan, rất là thảm đạm, quềnh quàng phóng bút, tự cho là phải. Nhưng có biết đâu, phàm họ cho là tài đó, điều cổ nhân không cho là tài, mà chỉ là những việc ngoài tay không có khuôn phép, và trong lòng không có liêm sĩ mà thôi.
Nói đến những hạng tài quanh, ở trước thì góp tứ, sau khi góp tứ, và quanh ở trước cùng sau, những khi dàn cục, khi luyện câu, cho đến khi hạ chữ ấy, là hạng người bút có tả, hữu, mực có chánh, phản. Dùng tả bút không ổn, thì dùng hữu bút không ổn, thì lại dùng tả bút. Dùng chính mực không rõ, thì lại dùng phản mực; Dùng phản mực không rõ thì lại dùng chính mực. Bụng đi đến đâu, tay đi đến đó, bụng không đi đến, tay cũng không đi đến, mà tay cũng không đi đến, đó là thánh cảnh của văn chương. Mà bụng không đi đến, và tay cũng không đi đến được, đó là hóa cảnh của văn chương.
Ôi! Văn chương mà đến trình độ bụng và tay không đi đến cả, thì tức là trên giấy không có chữ, không có câu, không có cục, mà cũng không có tứ vậy. Vậy mà lại riêng có thể khiến cho muôn ngàn đời về sau, đọc đến văn của mình, tất thị trong mắt trong lòng, đều man mác có chữ, hiểu hiện có mực, xoang xoang có câu, mà rõ ràng có chữ. Đó tức là trong khi cầm bút vuốt giấy, đều có tài quanh phía trước, tài quanh phía sau, mà không phải là việc thốt nhiên quềnh quàng viết láo mà ra.
Cho nên theo chỗ người đời nay bảo là tài, nghĩa là văn viết rất dễ ấy gọi là tài tử, nhưng theo cổ nhân bảo là tài, thì văn viết rất khó, mới gọi là tài tử được. Theo cái thuyết văn viết phải dễ, thì phải là khua múa lanh chóng, thần bí bồng bồng là tài tử đó. mà theo thuyết làm văn rất khó, thì phải là tâm tuyệt khí tuyệt, mặt tựa người chết, mới là tài tử đó. Bởi thế Trang Châu, Khuất Bình, Mã Thiên, Đỗ Phủ, cho đến Thi Nại Am và Đồng Giải Nguyên, những hạng sách đó, đều là tâm tuyệt khí tuyệt, mặt tựa người chết, rồi sau cái tài mới bao bọc phía sau và phía trước, mà sách mới làm thành ra được. Những bậc Trang Châu, Khuất Bình, Mã Thiên, Đỗ Phủ, cái chỗ diệu đó, đành không phsải bàn. Nhưng đến sách của Thi Nại Am mà cũng đến phải tâm tuyệt khí tuyệt, mặt tựa người chết, rồi tài mới bao quanh sau trước, mà mới thành được sách, thì có thể biết rằng cổ nhân làm sách, thực không phải là cẩu thả dễ dàng. Thế mà người đời vẫn không biết xét rõ lực lượng của mình, vẫn cứ phứa bừa cầm bút, thì những hạng người đó, thực ra người không đáng giết, mà sách không đáng đốt vậy.
Ôi! Mình là một hạng thường dân, không đủ sức để cấm thiên hạ làm sách, mà chợt nhặt một cuốn trong tay đám mục đồng, chìa ra từng điều, giải ra từng tiết, lại có thể khiến cho những kẻ chưa làm sách không dám làm sách, kẻ đã làm sách, nhất đán phsải bỏ cả đi, thế là cái công thanh trừng thiên hạ của Thánh Thán này, lại kỳ hơn ngọn lửa của nhà Tần. Vậy xin ở quảng thiên, thuật qua đại lược phế hưng kinh sách cổ kim ra đó. Dẫu không dám bảo là Công thần của Ty văn, nhưng cũng là một viên cát lấp cửa sau này.

spacer
spacer

Khám phá thêm

spacer
spacer