spacer
spacer
spacer
spacer
Câu hỏi mởTrả lời câu hỏi

Cách điều trị bệnh ung thư phổi giai đoạn 3 ?

     Mẹ em đang bị ung thư phổi giai đoạn III, đang hóa trị đợt 5 ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TPHCM. Em đang rất lo về tình hình bệnh của mẹ. Không biết sau các đợt hóa trị thì mẹ sẽ sống được bao lâu? Em đang rất buồn và lo lắng nên xin hỏi các anh chị những vấn đề sau: 1. Cách điều trị nào tốt nhất cho mẹ em hiện nay (ngoài hóa trị) 2. Cách chăm sóc và dinh dưỡng thế nào? 3. Những loại thuốc nào điều trị hiệu quả? 4. Làm sao để kéo dài cuộc sống?

spacer
spacer

Trả lời

(15)
spacer

Bạn đọc bài báo này nhé: Chị gái chế thuốc giúp em trai thoát khỏi ung thư phổi

baodatviet.vn/suc-khoe/chua-ung-thu/chi-gai-che-thuoc-giup-em-trai-thoat-khoi-ung-thu-phoi-3103864/

 

spacer
5 năm, 3 tháng, 15 ngày, 4 phút, 54 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Bạn tham khảo địa chỉ này nhé:

NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG 

CƠ SỞ 1: 99 - PHỐ VỒI - THƯỜNG TÍN - HÀ NỘI,  ĐIỆN THOẠI: 04.3385.3321

CƠ SỞ 2: SỐ 7 KHU THỦY SẢN(SỐ 46 LÊ VĂN THIÊM RẼ VÀO) - NHÂN CHÍNH THANH XUÂN - HÀ NỘI,  ĐIỆN THOẠI: 04.8587.4711

spacer
5 năm, 3 tháng, 14 ngày, 23 giờ, 20 phút, 29 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Điều trị bệnh ung thư phổi: www.chuatribenhungthu.com/dieu-tri-benh-ung-thu-phoi.html

spacer
5 năm, 3 tháng, 14 ngày, 22 giờ, 55 phút, 54 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Bạn đưa bệnh nhân đến địa chỉ này xem có thể có phương pháp nào điều trị được không nhé:

BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HƯNG VIỆT

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

spacer
5 năm, 1 tháng, 5 ngày, 9 giờ, 57 phút, 18 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Phương pháp mới xét nghiệm ung thư phổi

TTO - Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm y trường đại học Duke đã phát triển một phương pháp xét nghiệm có thể tìm ra sự khác biệt giữa mô tế bào thường và mô tế bào ung thư phổi.

Phương pháp này cho phép chúng ta thấy được lượng protein sản sinh ra trong mô tế bào khoẻ mạnh và mô tế bào ung thư là khác nhau.

Các nhà nghiên cứu cho biết kỹ thuật mới có tên là ADEPPT; nó có thể kiểm tra được lượng protein do mô tế bào ung thư sản xuất ra trong khi những phương pháp hiện tại không thể làm được.

Phương pháp này hứa hẹn có thể sẽ được dùng để chẩn đoán cũng như điều trị nhiều loại ung thư khác nhau.

spacer
5 năm, 1 tháng, 5 ngày, 9 giờ, 54 phút, 2 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

  Có người chia sẻ với mình cách điều trị bệnh này rất đơn giản: Ban ngày chia đều 3 lần uống nước lá đu đủ và nấm linh chi, tối trước khi đi ngủ uống bột nghệ vàng và mật ong. Theo tìm hiểu thì tất cả những vị thuốc trên đều có tác dụng tăng sức đề kháng và giúp làm nhỏ khối u rất tốt đấy.

spacer
5 năm, 1 tháng, 5 ngày, 9 giờ, 50 phút, 30 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer
spacer
4 năm, 11 tháng, 20 ngày, 17 giờ, 24 phút, 26 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

HỘI CHỨNG TRÀN DỊCH  MÀNG PHỔI

I- ĐỊNH NGHĨA

Ở  màng phổi là một khoảng ảo. Bình thường trong ổ màng phổi có rất  ít thanh dịch, đủ cho lá thanh  và lá tạng trượt lên nhau được dễ dàng trong động tác hô hấp.

Trong trường hợp bệnh lý co thể xuất hiện các  dịch  trong khoảng ảo đó, gây ra những biến đổi trên lâm sàng, gọi là hội chứng tràn dịch.

Nếu dịch có ít và chỉ  xuất tiết sợi tơ huyết, thăm khám  người bệnh  ta chỉ nghe thấy  tiếng cọ màng phổi  ở một vùng, còn các triệu chứng khác trên lâm sàng và Xquang đều  không rõ rệt: đó là dấu hiệu của viêm màng phổi khô.

II- TRIỆU CHỨNG.

1. Triệu chức năng và toàn thể.

Là thứ yếu, nhưng có giá trị  hướng tới chẩn đoán tràn dịch màng phổi trong một số trường hợp.

- Khi tiết dịch ít, khoảng 200 – 300 ml, người bệnh hơi đau bên có tràn dịch, không khó thở, vẫn nằm ngửa, đầu thấp được, nhưng có khuynh hướng nằm nghiêng về bên lành để tránh đau .

- Khi lượng nước trung bình, khoảng 700-800ml tới 1lít 500 ở người lớn, thì có khó thở nhẹ, và người bệnh phải nằm nghiêng về bên đau.

- Khi nước nhiều, tình trạng khó thở nổi bật, người  bệnh  phải ngồi dậy thở nhanh, nông.

- Bên cạnh những triệu chứng chức năng có thể thấy sốt  ít hoặc nhiều, mệt mỏi, tiếng ăn,v.v…

2.  Triệu chứng thực thể. Triệu chứng thực thể là chủ yếu.

2.1. Chúng ta lấy  trường hợp điển hình là tràn dịch màng phổi tự do, thể trung bình.

- Nhìn: lồng ngực bên có tràn dịch hơi nhô lên, khoảng liên sườn rộng ra và kém di động. Thường có phù nhẹ ở lồng ngực bên đau trong tràn mủ màng phổi.

- Sờ: rung thanh giảm nhiều hoặc mất.

- Gõ: đục rõ rệt, nếu gõ dọc theo các khoang liên sườn, từ trên xuống dưới, có thể thấy ranh giới trên của vùng đục là một đường cong parabôn có điểm thấp nhât ở gần sát cột sống, cao nhất ở vùng nách, và đi vòng xuống thấp phía trước ngực. Người ta gọi đó là đường cong Damoisesu.

- Nếu tràn dịch nhiều thì đường cong này biến dần thành đường thẳng ngang, ngoài ra có thể thấy các tạng lân cận như gan, tim, bị đẩy. Tràn dịch màng phổi trái làm mất khoảng Traube.

- Một số tác giả còn nhận xét là một vùng gõ trong của góc họp bởi cột sống và đường cong Damoiseau, gọi là góc Garlaud. Có thể thấy đây là vùng nhu mô phổi bị nước đẩy vào trong.

- Một số  tác giả khác thấy ở đáy phổi đối diện với bên có tràn dịch  có một diện đục, rì rào phế nang giảm và có tiếng ngực thầm, gọi là tam giác Grocco, một tam giác vuông, đường huyền là đường nối tiếp với điểm sát cột  sống nhất của đường cong Damoiseau, một cạnh là cột sống, hợp với ranh giới thấp nhất của nền phổi thành một góc vuông. Người ta cho rằng đó là do thay đổi tính chất dẫn truyền của cột sống và phổi bên  đối diện vì tràn dịch (Hình 38)

· Nghe:

- Rì rào phế nang giảm nhiều hoặc mất hẳn ở vùng đục.

- Có thể nghe tiếng cọ màng phổi lúc bắt đầu và giai đoạn rút nhiều nước.

- Nếu tràn dịch ít và có đông đặc phổi, có thể nghe thấy  tiếng thổi màng phổi và một số  tiếng rên nổ hoặc rên bọt.

Tóm lại, có thể nghĩ  tới  tràn dịch màng phổi nếu có triệu chứng  chủ yếu.

- Rung thanh giảm hoặc mất.

- Gõ đục.

- Rì rào phế nang giảm hoặc mất.

2.2. các thể khu trú. Tràn dịch màng phổi có thể khu trú ở một vùng. Lâm sàng thường khó chẩn đoán, và phải có Xquang, kết hợp với chọc dò mới có thể phát hiện được.

· Tràn dịch liên thuỳ: không gây khó thở rõ rệt, dịch khu trú ở rãnh liên thuỳ. Có thể thấy hội chứng ba giảm lơ lửng ở lồng ngực.

· Tràn dịch thể cơ hoành: dịch khu trú ở giữa nền phổi và cơ hoành. Người bệnh có thể đau bụng, nấc. Không rõ hội chứng ba giảm.

· Tràn dịch thể trung thất: dịch khu trú ở một phần, hoặc toàn bộ góc phổi- trung thất. Người bệnh thường khó thở nhiều. Có thể chú ý gõ thấy đục một vùng  cạnh ức hoặc cột sống.

· Tràn dịch thể nách, thể dịch phổi: dịch khu trú ở vùng nách, hoặc đỉnh phổi.

- Người bệnh khó thở ít.

- Có hội chứng giảm khu trú. Cần chọc dò để xác định chẩn đoán.

3.  Xquang

Tuỳ dịch nhiều hoặc ít sẽ thấy diện mờ lớn hoặc nhỏ (hình 39)

Nếu dịch ít, lâm sàng có thể không phát hiện được, nhưng trên Xquang thấy túi cùng màng phổi bị tù, và người bệnh thở sâu, túi cùng đó cung không sáng ra.

- Nếu dịch trung bình, có thể thấy đường cong Damoiseau.

- Nếu dịch rất nhiều: thấy nửa lồng ngực bị mờ, khoảng liên sườn rộng ra, rất kém di động, tim bị đẩy sang trái hoặc sng phải.

- Tràn dịch khu trú: có thể thấy được hình ảnh tràn dịch trên Xquang bằng những hình mờ tương ứng với nơi tràn dịch (hình 40, 41).

 

Có một số trường hợp khó xác định, cần kết hợp với bơm hơi: bơm hơi ổ bụng rồi chụp phổi để xác định tràn dịch  thể cơ hoành.

4.  Chọc dò:

Là động tác giúp cho  chẩn đoán quyết định, đồng thời còn có tác dụng chẩn đoán nguyên nhân, và điều trị đối với trường hợp khó thở do tràn dịch nhiều.

cần chú ý  tới tính chất vật lý và làm các  xét nghiệm về sinh hoá, tế bào vi khuẩn đối với chất dịch rút  ra.

4.1. Chẩn đoán quyết  định: chọc màng phổi có nước, có thể kết luận chắc chắn là tràn dịch. Chú ý dùng kim khá to, có khi phải dùng đến ống thông kim trường hợp dịch đặc qúa như tràn mủ.

Có thể phân biệt với:

-  Viêm phổi có biểu hiện ba giảm (xem hội chứng đông đặc).

-  Xẹp phổi.

4.2. Chẩn đoán nguyên nhân: dựa vào tính chất vật lý, các xétnghiệm của dịch màng phổi, và tiến triển lâm sàng của bệnh.

- Dịch có thể:

+ Vàng chanh: thanh dịch, tơ huyết.

+ Trong vắt.

+ Hồng hoặc đỏ đều, không đông: máu.

+ Đục: mủ.

+ Trắng nhưnứoc vo gạo hoặc vàng đặc, lóng lánh: dưỡng chấp hoặc cholesterol.

- Cần làm phản ứng Rivalta để có hướng phân loại dịch màng phổi.

+ Dương tính: dịch tiết, thường gặp trong viêm hoặc phản ứng kích thích màng phổi.

+ âm tính: dịch thấm, thường gặp trong các bệnh  gây ứ nước trong cơ thể.

III – NGUYÊN NHÂN

1. Nước vàng chanh.

· Thường có phản ứng Rivalta (+), tỷ lệ ambumin trên 30g/lít. Có nhiều tế bào: bạch cầu Limphô, bạch cầu đa nhân, một  số  tấ bào nội mạc của màng phổi.

Thường gặp trong:

+ Viêm màng phổi tiên phát: phần lớn do lao.

+ Phản ứng màng phổi  cạnh ổ viêm: viêm phổi, lao phổi, tác động mạch phổi, viêm màng ngoài tim, apxe gan…

· Có thể  Riavalta (-), anbumin dưới 30g/lít. Ít tế bào gặp trong các bệnh có ứ nước trong cơ thể: suy tim, xơ gan, phù thận…

2. Trong vắt. Rivalta (-), Anbumin dưới 25g/lít. Rất ít bạch cầu, có vài đám tế bào nội mạc. Gặp trong các bệnh gây ứ nước trong cơ thể, nhất là, thận nhiễm mỡ, suy dinh dưỡng, suy tuyến giáp trạng, suy tim xơ gan.

3. Dịch hồng hoặc đỏ. Rivalta (- ), Anbumin trên 30g/lít. Có nhiều hồng cầu và cả bạch cầu các loại. Thường do ung thư phổi hay do di căn của các loại ung thư vào phổi. Loại tràn dịch này  phát triển và tái phát nhanh sau khi chọc rút nước, gây khó thở nhiều.

4. Dịch đục có mủ. nhiều bạch cầu đa nhân thoái hoá, thường do các loại vi khuẩn gây mủ như tụ cầu, liên hoàn, phế cầu. Thường gặp trong nhiễm khuẩn tiên phát ở ổ màng phổi, hoặc nhiễm khuẩn thứ phát của tràn dịch màng phổi, hoặc là một triệu chứng của apxe gần màng phổi (apxe phổi, gan, dưới cơ hoành). Nếu mủ có màu nâu thì nên nghĩ tới ápxe gan do amip vở vào ổ màng phổi.

5. Trắng, như nước gạo, hoặc vàng đục lóng lánh.

Tràn dịch do mở ít gặp.

· Tràn dịch chứa nhiều Cholesterol: vàng đục  nổi váng nhiều mảng lóng lánh. Có khi màu xanh nâu. Có nhiều Cholesterol từ 1g tới hàng chục g/lít. Gặp trong tràn dịch kéo dài sau giai đoạn tràn mủ màng phổi. Chưa rõ cơ chế phát sinh.

· Dưỡng chấp: trắng như nước gạo. Có nhiều mỡ trung tính: 30-40g/lít. Thường do chèn ép ống ngực do các khối u, hoặc chấn thương lòng ngực, chèn ép tĩnh mạch dưới đòn. Không rõ nguyên nhân trong một số trường hợp.

IV – KẾT LUẬN

Trên lâm sàng, có thể phát hiện được hội chứng tràn dịch  qua dâu hiệu ba giảm. Chọc dò có giá trị chẩn đoán quyết định và giúp cho chẩn đoán nguyên nhân, Xquang cũng có giá trị chẩn đoán quan trọng, nhất là đối với trường hợp tràn dịch nhẹ và tràn dịch khu trú.

spacer
4 năm, 11 tháng, 13 ngày, 10 giờ, 43 phút, 29 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Phương pháp chụp cắt lớp mới giúp phát hiện sớm ung thư phổi

Được mệnh danh là "siêu sát thủ", ung thư phổi là một trong những căn bệnh khiến cho giới khoa học phải đau đầu từ bao năm nay. Tuy chưa tìm được thuốc chữa nhưng gần đây, các nhà khoa học Anh đã tìm ra phương pháp chụp cắt lớp công nghệ cao giúp phát hiện sớm để phẫu thuật cắt bỏ khối u, giảm thiểu nguy cơ tử vong cho bệnh nhân.

Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 1,3 triệu người chết vì ung thư phổi, nhiều hơn bất kỳ chứng bệnh ung thư nào khác. Tại châu Âu, sau khi chẩn đoán ra bệnh, chỉ có 10% bệnh nhân ung thư phổi sống được đến 5 năm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia thì cần phải tiến hành nghiên cứu thêm trước khi công bố chương trình chẩn bệnh áp dụng công nghệ chụp cắt lớp đắt tiền này.

Giới khoa học đang tập trung xem xét lợi ích của việc kết hợp hai phương pháp chụp cắt lớp công nghệ cao: chụp X-quang máy tính (CT) với phương pháp chụp phát positron (PET) để phát hiện khối u. Trong chụp CT xoắn ốc, bằng cách rà máy scan quanh người bệnh nhân, người ta có thể thu được hình ảnh tại các góc độ khác nhau. So với phương pháp chụp CT hiện nay thì phương pháp kết hợp này có lợi thế là nó scan liên tục, nhanh hơn và chất lượng hơn. Trong phương pháp PET, người ta cho bệnh nhân uống một lượng nhỏ thuốc phóng xạ để giúp máy scan phát hiện ra khối u. Cả hai phương pháp này đều rất đắt tiền và chưa được sử dụng rộng rãi ở Anh.

Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Ung thư Quốc gia Anh và Viện Ung thư học châu Âu tại Milan (Italia) đang tìm hiểu xem liệu kết hợp với phương pháp PET có làm tăng độ chính xác của phương pháp CT xoắn ốc hay không. Trong 5 năm qua, hàng năm người ta đã tiến hành chụp CT có kết hợp hoặc không kết hợp với PET cho hơn 1.000 người nghiện thuốc lá nặng ở độ tuổi 50 trở lên (hút ít nhất 26 điếu một ngày trong suốt 37 năm qua).

Nếu phát hiện thấy khối u khoảng 5 mm thì dường như đã có thể kết luận về tình hình bệnh tật và sau đấy 12 tháng bệnh nhân sẽ được chụp lại. Sau một năm, người ta phát hiện được 11 ca ung thư phổi. Sau một năm nữa, người ta lại phát hiện thêm 11 ca khi chụp lại cho tất cả mọi bệnh nhân có khối u nhỏ hơn 5 mm. Trong số họ, 21 người đã được phẫu thuật lấy khối u và chỉ có một người chết vì ung thư phổi.

 

Bác sĩ Ugo Pastorino thuộc Viện Ung thư Quốc gia Anh, người chủ trì cuộc nghiên cứu, nói: "Chúng tôi vừa chứng minh rằng chụp CT xoắn ốc liều thấp kết hợp với chụp PET có chọn lọc có thể sớm phát hiện ung thư phổi". Theo ông, cần phải tiến hành nghiên cứu thêm để thông báo về quyết định chụp rộng rãi cho bệnh nhân có nhiều nguy cơ mắc bệnh này.

Bác sĩ Siow Ming Lee thuộc Viện Nghiên cứu Ung thư Anh, chuyên gia tư vấn về ung thư tại Bệnh viện Middlesex và Bệnh viện UCL, tuyên bố: "Vấn đề sử dụng PET một cách có hệ thống nhằm phát hiện ung thư phổi giai đoạn đầu rất tốn kém, phức tạp và chưa thống nhất. Hiện nay, chưa có bất kỳ cuộc thử nghiệm nào cho thấy chụp PET có thể hạn chế tình trạng tử vong ở ung thư phổi giai đoạn đầu. Để công bố được phương pháp chụp này, chúng ta phải mất rất nhiều công sức và tiền bạc. Nghiên cứu mới đây về việc chụp PET trước khi chụp CT xoắn ốc nhằm cải thiện độ nhạy trong việc phát hiện ung thư phổi giai đoạn đầu là một bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, hướng đi này cần phải được thử nghiệm kỹ càng hơn".

spacer
4 năm, 2 tháng, 22 ngày, 22 giờ, 2 phút, 39 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

HÓA TRỊ LIỆU UNG THƯ & NHỮNG ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT

Từ thập niên 70, hóa trị liệu pháp thường được dùng kết hợp với phẫu thuật để trị liệu bệnh ung thư. Nhưng rồi sau đo, người ta nhận thấy rằng ung thư trong một số trường hợp, không phải chỉ định vị một chỗ mà các tế bào ung thư có thể di căn đến những cơ quan khác. Việc sử dụng hóa trị liệu điều trị tổng quát có thể tấn công vào những tế bào di căn, phòng ngừa sự lan truyền cũng như tái phát, làm giảm bớt khối u hỗ trợ cho việc điều trị bằêng phẫu thuật.

? Cách dùng như thế nào?

Trong đa số các trường hợp, hóa trị liệu được sử dụng dưới dạng truyền dịch với nhiều hợp chất kết hợp. Việc sử dụng qua đường uống còn đang được lượng giá và có thể áp dụng trong mười năm tới như là việc điều trị hỗ trợ.

? Chọn những chất nào?

Chọn hóa chất thích hợp là cả một quá trình nghiên cứu của các chuyên gia trị liệu tùy thuộc vào tuổi tác, tiền căn tiền sử, đặc tính của khối u, việc có hay không có nổi hạch, liều lượng như thế nào để đạt hiệu quả trị bệnh và hạn chế độc tính...

? Việc điều trị có thay đổi với bệnh nhân?

Cần thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố xảy ra trong đợt điều trị đầu tiên như tổng trạng bệnh nhân, ảnh hưởng của thuốc lên các cơ quan trong cơ thể, có cần đặt ống thông không...

? Những chất nào thường được dùng?

Ngoại trừ những chất cổ điển thường xuyên sử dụng như thiotepa, vinorelbine... những phân tử mới hiện nay thường dùng là:

- Taxanc, kết quả đầy triển vọng nhất là với những khối u ở vú, ở buồng trứng, độc tính chấp nhận được.

- Dẫn xuất của camptotécine lấy từ một loại cây ở Trung Quốc có tên cây của niềm vui, đó là irinotécan và topotécan thường được dùng kết hợp với taxane trong các trường hợp ung thư di căn ở trực tràng và hậu môn.

? Thời gian bao lâu?

Một chu kỳ hóa trị liệu thường kéo dài trong 5-6 ngày. Phải kiểm tra máu, đếm hồng cầu, bạch cầu 1-2 lần trong tuần. Việc điều trị thường đòi hỏi thời gian từ 6 tháng đến nhiều năm.

? Còn hóa liệu pháp mạnh?

Sau khi chế ngự được một số tác dụng phụ, người ta có thể gia tăng liều lượng thuốc để tăng hiệu quả trị bệnh. Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến việc tiêu hủy các nguyên hồng cầu (tế bào tạo ra hồng cầu) ở tủy sống. Để tránh hậu quả của việc dùng thuốc có thể dẫn đến tử vong, sau một đợt điều trị bình thường, người ta lấy các nguyên hồng cầu làm đông lạnh. Và sau khi điều trị bằng hóa liệu pháp mạnh, các nguyên hồng cầu này được tiêm vào tủy sống để tái tạo máu.

? Phản ứng phụ như thế nào? Làm sao giảm tác dụng phụ?

Đây là những chất độc cho cơ thể và gây ra những phản ứng phụ sau:

Buồn nôn và nôn: làm giảm bớt bằng các thuốc chống nôn cho vào dung dịch tiêm truyền làm giảm bớt 95% cảm giác khó chịu và không gây hậu quả xấu.

Làm biến đổi và gây loét thành mạch. Hiện nay để cải thiện tình trạng này, người ta đặt một ống thông trong các tĩnh mạch trung tâm. Như thế sự tuần hoàn máu sẽ nhanh và làm giảm thời gian tiếp xúc giữa hóa chất với thành mạch.

Táo bón: được điều trị bằng thuốc nhuận trường.

Làn da bị khô héo: dùng các loại sản phẩm làm ẩm làn da.

Rụng tóc: xuất hiện từ ngày thứ 20 trở đi được tiên liệu trước bằng cách làm lạnh mái tóc. Một mủ gây lạnh được đội lên đầu trong khi truyền dịch để làm giảm lượng máu lưu hành lên mái tóc và như thế lượng hóa chất tác dụng lên tóc sẽ giảm bớt. Biện pháp này tuy không thuận tiện cho lắm nhưng không gây đau đớn.

Bệnh nhiễm trùng: dễ bị phối nhiễm do thường xuyên lấy máu được điều trị bằng kháng sinh.

Trầm cảm: cần có chuyên viên điều trị nếu xảy ra. Người thân cần hiểu những đau đớn buồn phiền của người bệnh, tạo bầu không khí thông cảm và hiểu biết. Lòng nhân ái là một yếu tố cần thiết với những nhà ung thư học bởi vì sau căn bệnh hiểm nghèo là người bệnh và nỗi đau.

? Có thể sống bình thường khi điều trị bằng hóa liệu pháp không?

Hóa trị liệu ngày càng dễ thích nghi với cuộc sống bình thường. Khi bắt đầu điều trị, nhà ung thư học sẽ giao cho bệnh nhân một cuốn sổ có ghi số điện thoại khẩn cấp. Một trang tự ước lượng, đánh giá để bệnh nhân tự ghi lại những biến đổi trong cơ thể cũng như ý nghĩ của mình khi dùng thuốc.

Những điều cần tránh: không nên đi xem phim hay những nơi đông người để hạn chế bị nhiễm trùng (vi khuẩn, siêu vi).

Thuốc:không nên dùng thuốc giảm đau nhóm Aspirin vì đấy là chất chống đông máu. Hóa trị liệu làm giảm tiểu cầu, một yếu tố can thiệp vào quá trình đông máu.

Thể thao: có thể tập thể dục nhẹ để giữ thể lực nhưng tránh những môn thể thao nặng vì sự gắng sức không thích hợp cho công tác điều trị.

Có thể làm việc được không? Nếu tiếp tục theo đuổi công việc là một việc làm đáng ngưỡng mộ, tuy nhiên tùy thuộc vào tình trạng thể lực, trí tuệ và tinh thần của bệnh nhân.

DS. TRƯƠNG TẦT THỌ

(Theo Santé)

NIỀM HY VỌNG CỦA TƯƠNG LAI

Nhiều phân tử hóa chất đang được nghiên cứu và một số đang được đánh giá:

- Các chất làm nghẽn mạch: Giữ vai trò ngăn chặn máu đi vào nuôi dưỡng khối u. Khối u không được nuôi dưỡng sẽ chết và tự tiêu.

- Các chất biến đổi: Biến các tế bào ung thư thành tế bào bình thường.

- Vaccin chống lại một số bệnh ung thư.

- Điện hóa trị liệu: Bléomycine, một phân tử đã được dùng từ năm 1972 nhưng có bất tiện là không thâm nhập vào tế bào. Tạo ra các xung động điện vào tế bào ung thư, chúng sẽ trở nên dễ thẩm thấu và Bléomycine sẽ tác dụng trực tiếp lên tế bào ung thư mà không gây hậu quả trên các tế bào lành.

spacer
4 năm, 2 tháng, 22 ngày, 21 giờ, 57 phút, 32 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

liệu pháp mới trị ung thư

AHCC ( Sản phẩm A-HPC) - Chế phẩm tăng cường hệ miễn dịch - Liệu pháp điều trị bệnh ung thư hàng đầu Nhật Bản

 

spacer
4 năm, 1 tháng, 29 ngày, 16 giờ, 54 phút, 3 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

 Món ăn bài thuốc khác dành cho bệnh nhân ung thư phổi thể phế âm hư:

 
- Nấm linh chi 15 g, mộc nhĩ đen 10 g, mộc nhĩ trắng 10 g, đường phèn 15 g. Nấm linh chi rửa sạch, thái phiến; mộc nhĩ ngâm nước ấm rồi làm sạch, thái vụn. Tất cả cho vào bát cùng với đường phèn và một lượng nước vừa đủ, hấp cách thủy trong 60 phút. Bỏ bã nấm, ăn mộc nhĩ và uống nước.
 
Nấm linh chi có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Mộc nhĩ bổ phế, hoạt huyết, hóa ứ, có tác dụng kháng ung ở một mức độ nhất định. Các vị thuốc phối hợp tạo nên công năng bổ hư, kháng ung, tư âm, nhuận phế, chỉ khái của bài thuốc.
spacer
3 năm, 5 tháng, 12 ngày, 23 giờ, 33 phút, 58 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

 Báo động nguy cơ ung thư phổi ở nhà kín cổng cao tường

 
Theo nghiên cứu về khí ''rađôn trong nhà'' của Ban An toàn bức xạ và Hạt nhân, Bộ Khoa học công nghệ, nồng độ rađôn trong nhà cao gấp nhiều lần so với không khí ngoài trời. Loại khí này không màu, không mùi, rất khó phát hiện. Sống trong những căn nhà kín khiến cơ thể dễ bị nhiễm độc, nguy cơ ung thư phổi rất lớn...
 
Rađôn là loại khí có tính phóng xạ tự nhiên, sinh ra từ phân rã phóng xạ của Uran - chất có ở hầu khắp mọi nơi trên trái đất. Rađôn thoát qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trong mặt đất rồi khuyếch tán vào không khí. Ở trong nhà, nồng độ rađôn cao hơn hàng ngàn lần ngoài trời do hiệu ứng ''bẫy rađôn''.
 
Ông Đặng Thanh Lương, Ban An toàn bức xạ và hạt nhân, Bộ Khoa học công nghệ cho biết, những ngôi nhà có nồng độ rađôn cao đều do rađôn khuyếch tán khỏi mặt đất, toả ra không khí trong nhà. Nhà xây trên tấm sàn bê tông, các cửa ra vào, cửa sổ hay đóng kín sẽ có nồng độ khí rađôn rất lớn. Các phóng xạ phát ra từ tivi, máy tính, máy giặt... không được lưu toả, các tia sóng được khuyếch đại, độ độc hại tác động trực tiếp tới tế bào da, hệ thần kinh.
 
Cũng theo ông Lương, ở nhà gỗ hoặc nhà được xây trên các cột được thông gió tốt sẽ không phải lo lắng về khí độc.
 
Phương pháp tối ưu hạn chế rađôn là tăng cường thông gió cho không gian dưới nền nhà, tạo sự dịch chuyển không khí. Ngoài ra, nhà bê tông phải có nhiều cửa sổ thông gió thậm chí phải thông gió cưỡng bức (biện pháp cải tạo riêng biệt, phù hợp); không hút thuốc trong nhà.
spacer
3 năm, 5 tháng, 10 ngày, 23 giờ, 22 phút, 11 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Nguyên nhân gây ung thư phổi ở người không hút thuốc

Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học phát hiện ra một loại biến đổi gen có thể khiến cho một số người bị ung thư phổi cho dù họ không hút thuốc.

Theo tiến sĩ William Pao, một chuyên gia của Trung tâm Ung thư Memorial Sloan-Kettering, New York, thì những khối u trong phổi những người không hút thuốc không giống những khối u phát sinh do hút thuốc (chiếm tới 90% các u bướu ở phổi).

Nhóm nghiên cứu kiểm tra 15 khối u của những đối tượng không bao giờ hút thuốc nhưng lại bị ung thư tuyến, một căn bệnh ung thư thường gặp. Trong đó 7 người có đột biến trong gen EGFR - gen phát tín hiệu cho tế bào ung thư phân chia và lớn lên. Nhóm cũng nghiên cứu 81 khối u từ những người đã và đang hút thuốc và nhận thấy rằng chỉ có 4 người có đột biến gen này. Biến thể của gen EGFR xuất hiện với mật độ cao trong các tế bào ung thư phổi, kể cả ở những người không hút thuốc.

Các nhà khoa học đã thử nghiệm 2 loại thuốc chống ung thư mới có tác dụng hạn chế hoạt động của gen EGFR là Iressa và Tarceva, trên các bệnh nhân có đột biến gen EGFR. Kết quả cho thấy các khối u có biến thể EGFR rất nhạy cảm với thuốc, trong khi những khối u không có đột biến này thì không. Trong số những bệnh nhân có đột biến gen nhạy cảm với Iressa và Tarceva, 3/4 là những người không hút thuốc.

"Chúng tôi đang tìm cách nhận dạng những đột biến này. Nếu thành công, nó sẽ mở ra hướng mới trong việc điều trị ung thư phổi cho những người có đột biến gen EGFR. Chúng ta có thể dựa vào cấu trúc của gen EGFR để tìm ra những bệnh nhân đó và sử dụng Iressa và Tarceva để điều trị cho họ", Pao cho biết.

Đột biến ở gen EGFR không mang tính di truyền nhưng phát sinh sau khi ra đời, có thể là do tiếp xúc với một số yếu tố môi trường nào đó. Các nhà khoa học đang nghiên cứu để tìm ra cơ chế gây ra ung thư phổi của nó.

spacer
3 năm, 4 tháng, 17 ngày, 11 phút, 47 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Khám phá thêm

spacer
spacer