spacer
spacer
spacer
spacer
Câu hỏi mởTrả lời câu hỏi

Chữa ung thư phổi giai đoạn cuối?

      2 năm nay thỉnh thoảng bạn em bị ho ra máu trong 1 lần chụp phổi để chuẩn bị đi nước ngoài bác sĩ bảo phổi bạn đã bị chết 60% đã chuyển sang ung thư và có sự di căn rồi rồi. trước kia bạn em có hút thuốc lá nhưng đã bỏ được mấy tháng nay rồi không hút lại nữa. hiện cái bạn em thường có những triệu chứng như khó thở,tức ngực, khạc ra nhiều đờm,thỉnh thoảng lại thấy đau nhói ở ngực phải mỗi lần đau như thế thì không thể thở được. như thế có nguy hiểm lắm không ạ. có điều trị khỏi được không ạ? ai biết xin tư vấn cho em với. em xin cảm ơn.

Tags: ung thư, chữa ung thư, ung thu

spacer
spacer

Trả lời

(12)
spacer
Em nên đưa bạn em đi viện lao phổi cho đúng chuyên khoa,thực sự phổi đã chết 60% thì chức năng phổi đã kém hơn 1 nửa,lại còn bị tràn dịch màng phổi nên sức khỏe sẽ yếu đi rất nhiều..căn bản bệnh sẽ ngày càng nặng hơn do suy kiệt sức khỏe chứ không phải do bệnh phá đâu.nên động viên bạn thật tin tưởng vào cuộc sống và những biện pháp chữa bệnh mà mình đang sử dụng.
spacer
5 năm, 5 tháng, 7 ngày, 11 giờ, 15 phút, 56 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer
Xin chia sẻ sự cảm thông với em và bạn của em,rất mong em sẽ tìm được nhiều thông tin hơn nữa để giúp bạn mình,chúc 2 em thành công.
spacer
5 năm, 5 tháng, 7 ngày, 11 giờ, 11 phút, 7 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Khoa học đã công nhận bài thuốc cây xạ đen có tác dụng chữa ung thư

Nhiều chục năm trước, cây xạ đen (hay xạ đen cuống, tiếng Mường gọi là Xạ cái) từng được lương y dân tộc Mường Bùi Thị Bẻn (bệnh nhân thường gọi là mế Hậu, ở huyện Kim Bôi, Hoà Bình) đặt tên là cây ung thư, chuyên dùng để chữa các loại u khối. Bài thuốc cây xạ đen, dù sau đó được mế tặng cho Hội Đông y tỉnh Hoà Bình, vẫn ít người biết đến.

Chỉ kể từ năm 1987, khi được đoàn bác sĩ Học viện Quân y (do GS.TSKH Lê Thế Trung - Chủ tịch Hội Ung thư TP.Hà Nội dẫn đầu) phát hiện trong chuyến sưu tầm các bài thuốc quý trong dân gian, cây xạ đen mới bắt đầu thu hút sự chú ý của giới khoa học và được đưa về cơ sở này để nghiên cứu.

Qua nghiên cứu về thực vật học, hoá dược, dược lý, nghiên cứu thực nghiệm trên động vật được gây ung thư (theo đề tài cấp Bộ về xạ đen do GS. Lê Thế Trung làm chủ nhiệm), các bác sĩ đã phát hiện ở loài cây này tác dụng hạn chế sự phát triển của khối u ác tính. Hơn nữa, theo GS. Trung, hợp chất lấy từ xạ đen nếu được kết hợp với chất Phylamin (lấy từ một loại thảo dược ở đồng bằng) còn phát huy tác dụng, kéo dài tuổi thọ trung bình của động vật bị ung thư hơn nhiều chất đã qua nghiên cứu thực nghiệm như Trinh nữ hoàng cung hay tỏi Thái Lan.

Đến cuối năm 1999, đề tài của các bác sĩ Học viện Quân y được nghiệm thu, cây xạ đen chính thức được công nhận là một trong không nhiều những vị thuốc nam có tác dụng điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư. Cuối năm 2002, người bệnh mới biết đến loài cây này qua câu chuyện của GS. Trung trong Chương trình Người đương thời (VTV3) và tìm về phòng khám Đông y nơi con gái mế Hậu - lương y Đinh Thị Phiển làm việc ngày một đông.

Cẩn  thận với xạ đen rởm

Từ khi được nhiều người biết đến, xạ đen trở thành đối tượng chính của dân săn dược liệu. Từ đầu năm Quý Mùi, xạ đen khan hiếm hơn, giá thị trường tăng từ 50.000 đồng lên 150.000-200.000 đồng/kg khô. Phòng khám của lương y Đinh Thị Phiển trở thành nơi tiếp không chỉ bệnh nhân và người nhà; dân buôn dược liệu thi thoảng cũng ghé qua xin bà xem giúp những thứ cây nhét chặt trong các bao của họ có đúng là loài cây quý.

Lương y Đinh Thị Phiển cho biết, có đến 3/4 số cây bà được hỏi không phải là xạ đen; phần lớn là cây thuỷ bồ (hoặc thạch xương bồ, nếu mọc trên đá). Những loài cây này cũng có lá xanh và chát gần giống lá chè nhưng không lớn hoặc sẫm bằng xạ đen. Đặc biệt, không chuyển màu đen mực ngay sau khi bị băm nhỏ như loài dược thảo quý này.

Bà Phiển dự đoán, những thứ xạ đen giả nói trên sẽ được tải về các kho thuốc đông y và cắt cho bệnh nhân nhiều tỉnh.

Còn ở nhà bà lương y nối nghiệp trị bệnh, cứu người của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và người mẹ đã quá cố, cây xạ đen sẽ mãi là thật, dù người ta có nhao nhác đi tìm của giả để thay thế và nguyên liệu thuốc có tăng giá đến đâu. Để người bệnh ung thư còn chí ít là một trong mười phương được sống và sống chất lượng nhất trong khả năng có thể.

spacer
5 năm, 5 tháng, 6 ngày, 19 giờ, 16 phút, 45 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Iressa - thuốc mới giúp cải thiện đáng kể bệnh ung thư phổi

Loại thuốc dùng mỗi ngày một viên này khiến khối u phát triển chậm đi, nhờ khả năng gây tắc nghẽn tín hiệu tăng trưởng bên trong của tế bào ung thư. Thuốc đem lại những tác dụng đáng khích lệ ở bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối, và nhanh chóng làm giảm triệu chứng bệnh ở nhiều người.

Tại cuộc họp của Hội Ung thư Lâm sàng Mỹ tổ chức ngày 18/5 ở Orlando (Florida), các nhà khoa học cho biết, Iressa đã làm co nhỏ khối u ở một số bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối, mà các biện pháp điều trị trước đó đều tỏ ra bất lực. Điều đặc biệt quan trọng là thuốc làm giảm các biểu hiện của bệnh ở 1/3 số bệnh nhân hoặc hơn.

Bác sĩ Mark Kris, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan-Kettering ở New York, cho biết, phần lớn những người đáp ứng với thuốc bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn trong vòng hai tuần. Thuốc giúp họ thở sâu hơn, giảm bớt triệu chứng ho, chán ăn và các biểu hiện khác của ung thư. Những triệu chứng này thuyên giảm ở mức trung bình tới đáng kể, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Sử dụng Iressa là phương pháp điều trị ung thư phổi hoàn toàn mới. Thuốc thuộc nhóm dược phẩm mới có tên là "điều trị có mục tiêu". Các thuốc này tác động chủ yếu lên khối u chứ không nhằm vào tất cả các mô tăng trưởng nhanh như hóa trị liệu hiện hành. Điều này giúp giảm hiệu quả không mong muốn của thuốc, cho phép người bệnh dùng thuốc trong nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm.

Nhiều nhà khoa học nghi ngờ khả năng chữa khỏi ung thư của Iressa nhưng cho rằng nó giúp kiểm soát bệnh, nhất là nếu được sử dụng sớm.

Nhà sản xuất AstraZeneca vừa đệ đơn lên Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ, xin được phép bán thuốc này. Hiện đã có những công trình nghiên cứu tìm hiểu xem liệu Iressa có thể ngăn ngừa ung thư phổi ở những người hút thuốc lá không. Thuốc cũng đang được thử nghiệm trong điều trị ung thư vú, tuyến tiền liệt và đại tràng.

spacer
4 năm, 3 tháng, 27 ngày, 1 giờ, 17 phút, 40 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

VIDATOX PLUS® Hỗ Trợ Điều Trị Ung Thư

VIDATOX PLUS® là sản phẩm thế hệ thứ 3 của quá trình nghiên cứu của  dòng sản phẩm được sản xuất từ nọc của bò cạp xanh (Rophalorus junceus), là loài đặc hữu của Cuba chỉ có tại miền Trung và miền Nam Cuba, trong đó có thuốc giảm đau tác dụng chống viêm và chống ung thư, trong hơn 15 dòng tế bào ung thư khác nhau. VIDATOX®PLUS hoạt động với cơ chế cô lập tế bào ung thư, cô lập khối u không cho mạch máu đến nuôi dưỡng khối u, làm cho khối u teo đi, và cùng phối hợp với các liệu pháp xạ trị hay dùng hóa chất để tiêu diệt hoàn toàn tế bào ung thư. Kết quả sau 15 năm nghiên cứu, từ tháng 10 năm 2010 Vidatox đã được thử nghiệm trên hơn 10.000 bệnh nhân ung thư, Gần 3.500 người trong số họ là người nước ngoài, với kết quả tích cực cả trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và ngăn chặn sự phát triển khối u.

VIDATOX®PLUS có tác dụng hỗ trợ trong việc điều trị các triệu chứng gây ra ở bệnh nhân ung thư và có có khả năng làm giảm đau rõ rệt. Quyết định đưa đến sản xuất là nhờ kết quả hơn 15 năm của dự án nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm của nọc bò cạp xanh, và đánh giá tiềm năng của chúng như kháng khối U , giảm đau, kháng viêm, cải thiện thông số huyết học, tăng cường các chức năng trong các cơ quan và hệ thống bị ảnh hưởng và nâng cao đời sống, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân ung thư.

 sach-ghi-nhan-hieu-qua-tich-cuc-cua-vidatox-tai-chau-au

Cuốn sách Tổng hợp về những thành công của Vidatox đã được xuất bản tại Châu Âu năm 2012

Chính vì vậy, Vidatox®Plus đang là sự lựa chọn hàng đầu cho người bệnh ung thư và phòng ngừa u bướu. Nhiều bệnh nhân ở các nước phát triển như Châu Âu, Châu Mỹ…  dù hiện tại vẫn đang khó khăn trong việc tiếp cận sản phẩm do lênh cấm vận thương mại của Hoa Kỳ chống Cuba nhưng cẫn không quản ngại đến với xứ sở của Bọ Cạp Xanh để được sử dụng Vidatox®Plus và thụ hưởng những thành tựu đáng khâm phục của Y học Cuba.

Với con số thống kê hơn 100.000 người bệnh trên toàn thế giới đang sử dụng thuốc điểu trị ung thư Cuba như một phần của phương pháp điều trị, và phần lớn đã đạt được những kết quả rất khả quan, có thể nói Vidatox chính là niềm hi vọng mới cho nhiều bệnh nhân ung thư, đúng như ý nghĩa tên gọi của nó: giọt nước của cuộc sống!

spacer
4 năm, 3 tháng, 13 ngày, 22 giờ, 41 phút, 26 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Bạn tham khảo bài thuốc đông y chữa bệnh ung thư phổi ở đây nhé: 

pharmace.asia/bt/377-ung-thu-phoi.html

taichinhkinhte.vn/doanh-nghiep/dinh-huong-dau-tu-va-phat-trien-ben-vung-du-an-vung-duoc-lieu.html

 

spacer
4 năm, 3 tháng, 13 ngày, 20 giờ, 3 phút, 59 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

   Mình nghe nhiều người nói đến thầy lang Phùng Đắc Chung ở Vĩnh Phúc chữa ung thư hay lắm, bạn tìm thêm thông tin xem sao nhé.

spacer
4 năm, 3 ngày, 22 giờ, 43 phút, 30 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

   Nếu theo đúng chuyên môn nhận định thì khi phổi đã bị xẹp hoặc bị xơ hóa cả 2 lá thì chắc chắn sẽ chẳng còn cách nào hồi phục.Nhưng nếu chỉ bị một lá thì còn rất nhiều hy vọng cũng như chúng ta phẫu thuật bỏ đi một quả thận,một lá gan hoặc 1 nửa dạ dày chúng ta vẫn sống tốt mà.Quan trọng là cách chữa của người thầy thuốc thôi.

spacer
3 năm, 11 tháng, 28 ngày, 12 phút, 39 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

   Ung thư nói chung với đông y phần lớn lad do bị cảm nhiễm ngoại tà trong thời gian dài khiến đớm thấp,khí ứ,nhiệt độc tích tụ trong cơ thể.Hoặc do tạng phủ âm dương khí huyết mất cân bằng,chính khí hư yếu,thất tình bị nội thương khiến khí huyết ứ trệ.Biểu hiện lâm sàng thường thấy là có những nốt cứng dạng u,hạch trong người,đau đớn,người suy nhược...Căn cứ theo vị trí của u ,hạch và mối quan hệ của tạng phủ,biểu hiện lâm sàng của chúng,tốc độ phát triển,mức độ nặng ,nhẹ mà có những phương cách trị khác nhau.

spacer
3 năm, 7 tháng, 25 ngày, 21 giờ, 15 phút, 56 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Chụp CAT giúp sớm phát hiện bệnh ung thư phổi

        Một nghiên cứu mới đây cho thấy sử dụng phương pháp chụp cắt lớp mới nhạy hơn có tên là CAT (hay còn gọi là chụp CT) để phát hiện bệnh ung thư phổi, có thể giúp các bác sĩ chẩn đoán bệnh sớm hơn và cứu được mạng sống của hàng ngàn người.

        Theo một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí y khoa Anh, The Lancet, sử dụng phương pháp chụp cắt lớp Helical Low Dose CAT thay vì chụp X-quang ngực thông thường có thể làm tăng tỷ lệ cứu sống lên gần 80%. Trong số gần 159.000 người được cho rằng sẽ bị chết vì ung thư phổi năm nay, những nhà nghiên cứu cho biết sử dụng phương pháp chụp CAT phát hiện bệnh từ sớm đã giúp cứu sống khoảng 128.000 người trong số họ. Hiện nay khoảng 70% số người phát hiện bị bệnh ung thư phổi ngay từ giai đoạn đầu có thể được cứu sống. Tuy nhiên đa số các trường hợp bệnh ung thư phổi lại không được phát hiện sớm.

       Cuộc nghiên cứu đã được tiến hành trên 1.000 người cả nam và nữ, tất cả đều hút thuốc hay trước đây có hút thuốc, tuổi từ 60 trở lên. Những người tham gia đã hút hai gói thuốc mỗi ngày trong 5 năm hoặc một gói mỗi ngày trong 10 năm và không có dấu hiệu gì về bệnh ung thư phổi khi bắt đầu tham gia cuộc nghiên cứu. Những người tham gia được chụp X-quang ngực thông thường và chụp cắt lớp CAT liều thấp. Kết quả là chụp CAT phát hiện 27 khối u trong khi chụp X-quang chỉ phát hiện 7. Trong 27 trường hợp bị khối u có 23 trường hợp thuộc giai đoạn đầu và 4 thuộc giai đoạn sau. X-quang chỉ phát hiện 4 trong số 23 trường hợp thuộc giai đoạn đầu. Tất cả những khối u được phát hiện sớm đều được loại bỏ và bệnh nhân được cứu sống. Bốn bệnh nhân phát hiện khối u muộn đã bị chết.

       Hai bác sĩ không liên quan gì đến cuộc nghiên cứu cho biết họ hoài nghi về lợi ích của việc sử dụng phương pháp này :

       Bác sĩ Norman Howard, một chuyên gia về bệnh ung thư phổi tại bệnh viện Cromwel, London, đồng ý rằng máy chụp CAT là công cụ phát hiện chất lượng cao nhưng ông cho biết việc sớm phát hiện các khối u có lẽ không làm thay đổi tỷ lệ người mắc bệnh ung thư phổi được cứu sống vì tính chất hung hãn của căn bệnh này.         Bác sĩ Ian Smith, trưởng khoa ung thư phổi bệnh viện Hoàng gia Marsden, London, thì cho rằng vấn đề cần phải được xem xét thêm nhưng ông cũng nói kết quả của cuộc nghiên cứu đã thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn nữa về việc chụp CAT.

        Cả hai đều cho rằng chụp CAT chi phí cao hơn nhiều so với chụp X-quang thông thường nên bệnh nhân khó mà tiến hành kiểm tra đều đặn được.

 

spacer
3 năm, 7 tháng, 2 ngày, 18 giờ, 43 phút, 20 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Chào bạn spacerkimminh, thông tin về thần y Phùng Đắc Chung đây bạn ơi, thầy này nổi tiếng lắm đấy:

vtc.vn/su-that-ve-than-y-tri-benh-ung-thu.394.218230.htm

spacer
2 năm, 6 tháng, 21 ngày, 1 giờ, 18 phút, 31 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Vấn đề truy tìm ung thư phổi và hiệu quả 

 

 

“Báo nguy! Tỉ lệ người Việt khám ung thư quá thấp.”  Đó là tiêu đề của một bản tin trên một tờ báo tiếng Việt tại California.  “Báo nguy”!  “Ung thư”!  Toàn những danh từ nghe qua phát sợ.  Bài báo còn cho biết “Ung thư đứng hàng thứ hai sau bệnh tim về nguyên nhân tử vong ở California và trên toàn quốc.  Phương thức cốt yếu để đề phòng ngừa là các cuộc xét nghiệm rà ung thư hầu phát hiện sớm khi bệnh dễ chữa trị nhất, và trong nhiều trường hợp, có thể chữa khỏi hoàn toàn.”.

Phát hiện ung thư sớm, điều trị có khả năng thành công cao.  Đó là thông điệp mà một số người trong giới y tế không ngừng cho chúng ta biết.  Thoạt đầu mới đọc qua những bản tin như trên thì thấy quá có lí: phát hiện sớm, chữa trị sớm, hết bệnh.  Có gì phải bàn cãi đâu!  Ấy thế mà có đấy.  Nói phát hiện sớm để có thể chữa trị sớm là gián tiếp đề cập đến một giả định: đã có phương pháp chữa trị hiệu quả.  Nhưng cũng như nhiều chuyện khác, đó là một giả định không đúng, và câu phát biểu trên quá đơn giản, đơn giản đến độ nguy hiểm.  Hai nghiên cứu mới nhất vừa công bố trên tờ tập san New England Journal of Medicine (NEJM) và tập san của Hiệp hội Y khoa Mĩ (Journal of the American Medical Association hay JAMA) cung cấp cho chúng ta vài bài học đắt giá về cách hiểu và diễn dịch hiệu quả của các chương trình truy tìm ung thư.

Trong số các bệnh ung thư, ung thư phổi là một bệnh nguy hiểm nhất.  Nguy hiểm là vì số trường hợp tử vong do bệnh này gây ra thuộc vào hàng cao nhất so với các bệnh ung thư khác [1].  Ở nước ta, ung thư phổi ở đàn ông là loại ung thư phát sinh với tần số cao nhất (với tỉ lệ 39 trên 100,000 dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh) so với tất cả các bệnh ung thư khác [2].  Do đó, có thể hiểu được tại sao chúng ta tìm mọi phương cách để phát hiện bệnh càng sớm càng tốt, với hi vọng sẽ điều trị trước khi ung thư phát triển đến giai đoạn khó cứu chữa.  Một trong những phương pháp đó là chương trình truy tìm ung thư bằng X quang hay các thiết bị hiện đại khác mà giới y tế Tây phương gọi là “screening”.

(Động từ screen không phải dễ dịch, vì nó không có nghĩa chiếu phim hay che chắn; nó có nghĩa đen là sàng lọc.  Khái niệm screening cũng giống như khái niệm truy tầm những tên khủng bố trong nước Mĩ vậy.  Nói một cách tóm tắt, giới chức dựa vào những thông tin liên quan đến đối tượng và từ đó ước đoán xác suất đối tượng có thể là một người có tiềm năng khủng bố.  Do đó, tôi dịch chữ cancer screening là truy tìm ung thư, vì trong thực tế nó là một cách truy tìm.)

Vấn đề đặt ra là các chương trình truy tìm ung thư như thế có hiệu quả hay không.  Năm ngoái (2006), một bài bào công bố trên tập san NEJM kết luận rằng chương trình truy tìm ung thư phổi bằng CT (một dạng X quang ba chiều) có thể cứu sống bệnh nhân ung thư phổi [3].  Ngay sau khi công trình nghiên cứu được công bố, các nhóm vận động truy tìm ung thư ở Mĩ phát động một chiến dịch thông qua các tài tử điện ảnh và các ngôi sao thể thao để kêu gọi mọi người nên tham gia vào các dự án truy tìm ung thư phổi. 

Nhưng mới tuần qua (7/3/2007), tập san JAMA công bố một nghiên cứu khác [4] với kết luận rằng truy tìm ung thư bằng máy chụp cắt lớp điện toán tia xoay (spiral CT) không những vô hiệu quả, mà còn có thể gây tác hại cho bệnh nhân vì những phẫu thuật không cần thiết và có khi nguy hiểm.

Tại sao hai công trình nghiên cứu qui mô, được công bố trên hai tập san y học hàng đầu của Mĩ (và thế giới) lại đi đến hai kết luận hoàn toàn trái ngược nhau?  Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta cần phải hiểu rõ khái niệm truy tìm ung thư và những khía cạnh “kĩ thuật” đằng sau mục tiêu của các chương trình truy tìm ung thư.

            Để trả lời câu hỏi này, cần phải thông hiểu hai khái niệm căn bản trong dịch tễ học: khả năng sống sót (survivorship) và tử vong (mortality).  Hai khái niệm này có liên quan, nhưng khác nhau, và phân biệt được có thể giúp cho chúng ta không hiểu lầm về các báo cáo y khoa.  Có thể hiểu hai khái niệm này qua một ví dụ sau đây: Giả dụ một quần thể gồm 100 người, và tất cả đều tham gia vào chương trình truy tìm ung thư trong vòng 10 năm.  Trong thời gian đó, chương trình truy tìm ung thư phát hiện được 30 người bị ung thư; và trong số này có 20 người tử vong vì ung thư trong thời gian theo dõi.  Sau thời gian theo dõi nghiên cứu (sau 10 năm) còn có thêm 5 người nữa tử vong.  Tỉ lệ sống sót trong thời gian theo dõi là 80%; tỉ lệ sống sót ở bệnh nhân được chẩn đoán ung thư là 33.3%. Thế nhưng, con số thực tế là 75% và 16.7%, tương ứng; nhưng con số này không có báo cáo vì chương trình truy tìm ung thư đã kết thúc!

            Do đó, nếu chỉ dựa vào tỉ lệ sống sót rất dễ sai lầm.  Một “hiệu ứng” khác của vấn đề thẩm định hiệu quả của các chương trình truy tìm ung thư là vấn đề mà giới dịch tễ học gọi là “lead-time bias” (tôi tạm dịch là “hiệu dịch thời gian” mượn khái niệm bias trong vật lí học).  Yếu tố này phát biểu rằng đơn thuần phát hiện bệnh sớm (như qua chẩn đoán bằng spiral CT trong các chương trình truy tìm ung thư) lúc nào cũng gia tăng chỉ số khả năng sống sót.  Hãy xem xét một ví dụ cụ thể: Bệnh nhân A tham gia chương trình chẩn đoán sớm (screening), được chẩn đoán bị ung thư lúc 60 tuổi, và tử vong ở tuổi 70. Như vậy bệnh nhân này sống được sau khi chẩn đoán là 10 năm. Trong khi đó bệnh nhân B, vì không tham gia vào chương trình chẩn đoán sớm, bệnh nhân phát bệnh ở tuổi 67, và chỉ sống được sau đó 3 năm. Như thế dễ nhận thấy bệnh nhân A có thời gian sống sau chẩn đoán ung thư dài hơn nhiều so với bệnh nhân B (7 năm). Nhưng trong thực tế hai bệnh nhân A và B đều tử vong và có cùng một tuổi thọ như nhau là 70 tuổi.

            Hiểu hai khái niệm đó, bây giờ chúng ta thử đánh giá hai nghiên cứu trên tập san NEJM và JAMA.  Trong công trình nghiên cứu công bố trên tập san NEJM [3], các nhà nghiên cứu rà soát 31,567 đối tượng bằng CT và phát hiện 484 (tức khoảng 1.5%) trường hợp ung thư phổi.  Tỉ lệ sống sót trong vòng 10 năm ở những bệnh nhân này là 80% — so với tỉ lệ 10% ở những bệnh nhân ung thư phổi trên toàn nước Mĩ.

Công trình nghiên cứu công bố trên tập san JAMA [4] thăm dò 3,246 đối tượng và phát hiện 144 (hay 4.4%) trường hợp ung thư phổi.  (Tỉ lệ phát hiện trong nghiên cứu này cao hơn vì phần lớn đối tượng là người cao tuổi và được theo dõi lâu hơn).  Trong số 3,246 người này, 38 người chết vì ung thư phổi – và con số này tương đương với tỉ lệ tử vong ở những người cùng độ tuổi từng hút thuốc lá và không chụp spiral CT.

            Mục tiêu tối hậu của các chương trình truy tìm ung thư là giảm tử vong — tức cứu người.  Bởi vì công trình nghiên cứu trên tập san NEJM chỉ xem xét chỉ số sống sót, và do đó không cho chúng ta biết bao nhiêu người đã được cứu sống.  Ngược lại, vì công trình trên tập san JAMA phân tích chỉ số tử vong (tức trực tiếp giải quyết mục tiêu của chương trình truy tìm ung thư), và do đó kết quả này cho chúng ta biết được rằng chương trình truy tìm ung thư không có hiệu quả.  Kết quả của nghiên cứu trên tập san JAMA cũng phù hợp với các nghiên cứu trước: truy tìm ung thư phổi sớm có thể làm gia tăng chỉ số khả năng sống sót, nhưng không cứu sống bệnh nhân.

            Chỉ số khả năng sống sót không phản ảnh được hiệu quả của chương trình truy tìm ung thư.  Và, đây chính là sai lầm của kết luận trong bài báo trên tập san NEJM, mà một số bác sĩ và nhà nghiên cứu đã chỉ ra sau khi bài báo được công bố.

            Hai nghiên cứu này còn cho chúng ta một khía cạnh khác của các chương trình truy tìm ung thư: Đó là hiện tượng “overdiagnosis” – hay “gán bệnh”. Đây là một vấn đề đáng quan tâm đối với phương pháp CT, bởi vì phương pháp này có thể phát hiện nhiều dấu hiệu bất bình thường hơn là phương pháp chụp X quang thông thường.  Nói cách khác, các chương trình truy tìm ung thư thường phát hiện những trường hợp ung thư giai đoạn đầu.  Thật vậy, các trường hợp ung thư giai đoạn I và II hay N0M0 chiếm khoảng 70% đến 93% tổng số trường hợp ung thư phổi phát hiện bằng CT trong các chương trình truy tìm ung thư [5-6]  Cụ thể, một chương trình truy tìm ung thư phổi ở Nhật cho thấy sử dụng máy chụp spiral CT phát hiện số trường hợp ung thư cao gấp 10 lần so với X quang lồng ngực.  Quan trọng hơn nữa, xác suất phát hiện ung thư phổi (qua chẩn đoán bằng máy spiral CT) ở những người hút thuốc lá bằng với xác suất ở người không hút thuốc lá [7]!

Nhưng tất cả các bệnh nhân với chẩn đoán ung thư phổi đều phải được điều trị, “gán bệnh” cũng có nghĩa là một số người được điều trị một cách không cần thiết hay điều trị sẽ chẳng đem lại lợi ích sức khỏe cho họ, và có thể gây tác hại.  Phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sớm được điều trị bằng phẫu thuật để cắt bỏ một phần lá phổi, một cuộc giải phẫu lớn với khoảng 5% tử vong trong vòng 1 tháng [8].  Cần nói thêm rằng một phân tích tổng hợp (meta-analysis) năm 2005 cho thấy tỉ lệ tử vong ở những người tham gia các chương trình truy tìm ung thư phổi cao hơn những người không tham gia các chương trình đó [9].

Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu (trên tập san JAMA và NEJM) đều không thể xem là kết luận sau cùng được, bởi vì cả hai đều không phải là những nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, một chuẩn vàng trong nghiên cứu y học.  Hiện nay, hai nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên đang được tiến hành (một công trình hợp tác giữa Bỉ và Hà Lan, và một công trình do Viện ung thư quốc gia Mĩ – National Cancer Institute– tài trợ).  Kinh nghiệm gần đây cho thấy niềm tin có thể sai trước ánh sáng khoa học.  Chẳng hạn như trường hợp thay thế kích thích tố nữ (hormone replacement therapy) ở những phụ nữ sau mãn kinh, những giả định về lợi ích trong điều kiện thiếu chứng cứ khoa học có thể gây tác hại cho bệnh nhân.  Để tránh lặp lại sai lầm đó một lần nữa trong y học, chúng ta không nên khuyến khích truy tìm ung thư phổi đại trà bằng các thiết bị đắt tiền nếu chưa có bằng chứng về hiệu quả cứu sống bệnh nhân.

spacer
2 năm, 6 tháng, 21 ngày, 1 giờ, 16 phút, 29 giây Báo cáo vi phạm    
spacer
spacer
spacer

Khám phá thêm

spacer
spacer